Menu chính
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Tạp chí |
| Hội nghị hàng năm |
| Các chương trình |
| Tài liệu |
| Thư viện |
| Liên kết |
| Liên hệ |
| Diễn đàn |
Polls
Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.
Số lần xem bài viết : 210123
| Đánh giá đáp ứng miễn dịch và các phản ứng sau tiêm vắc xin Pavivac phòng quai bị cho trẻ tại làng SOS và trường Hermann Gmeiner Thành phố Nha Trang |
| Viết bởi TS. Đinh Sỹ Hiền (*), BS. Bùi Trọng Chiến (**), Ths.Đỗ Thái Hùng(***) và CS | |||||
| Thứ năm, 22 Tháng 10 2009 22:56 | |||||
Trang 2 của 2 3.1.3. So sánh chuyển đổi huyết thanh trong nhóm 1 và 2 ![]() 3.1.4. So sánh tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa theo giới tính và nhóm tuổi Trong 127 trẻ được đánh giá về chuyển đổi huyết thanh sau tiêm Pavivac có 77 trẻ nam (60,6%) và 50 nữ (39,4%). Phân nhóm tuổi có 9 trẻ < 5 tuổi (7,6%), 66 trẻ 5-9 tuổi (52%) và 52 trẻ 10- 14 tuổi (40,9%). Các phân tích cho kết quả tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa không có sự khác biệt theo giới tính và nhóm tuổi của các trẻ được tiêm chủng ( P>0,05). Có sự khác biệt rõ ràng về sự chuyển đổi huyết thanh (HT) trong 2 nhóm. Nhóm 1 cho thấy kết quả xác định mức ISR như sau: Lần I cả 51 mẫu HT đều âm tính với ISR trung bình 0,56. Lần II có 30/51 dương tính (58,62%) với ISR trung bình là 1,54. Lần III có 49/51 dương tính (96,08%) với ISR trung bình là 2,81. Sự chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa giữa lần II so với lần I là 86,27%, giữa lần III so với lần II là 78,43% và giữa lần III so với lần I là 100%. Nhóm 2 cho thấy kết quả xác định mức ISR như sau: Lần I cả 76 mẫu HT đều dương tính với ISR trung bình 2,59. Lần II có ISR trung bình là 3,51. 3.2. Kết quả giám sát phản ứng sau tiêm chủng (AEFI) 3.2.1. Chia nhóm theo tình trạng AEFI Trong 249 trẻ được tiêm vắc xin Pavivac, có 92 trẻ (36,9%) không có biểu hiện phản ứng gì (nhóm C), 132 trẻ (53,0%) có các bệnh xẩy ra trùng hợp ngẫu nhiên (nhóm B) và 25 trẻ (10,1%) có các phản ứng do vắc xin. Phân tích 132 trẻ trong nhóm B cho thấy các lượt bệnh được chẩn đoán cụ thể (ví dụ: tiêu chảy, ARI, thủy đậu …). Tỷ lệ các bệnh trong nhóm B tương ứng với báo cáo của y tế địa phương về tỷ lệ các bệnh trong cộng đồng nói chung, phổ biến là hội chứng cúm (32,8%), ARI (15,1%), tiêu chảy ( 4,2 %) .... Trong giám sát dài hạn về phản ứng sau tiêm chủng thì bao giờ cũng bắt gặp đối tượng có bệnh xẩy ra trùng hợp ngẫu nhiên, giống như các nghiên cứu khác [6]. Như vậy để đánh giá tính an toàn của vắc xin, chúng tôi chỉ phân tích AEFI trong nhóm A (phản ứng do vắc xin). Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ có phản ứng do vắc xin (10,1%) thấp hơn so với các kết quả thực nhiệm lâm sàng khác trên thế giới, chỉ riêng phản ứng sốt chiếm từ 23-35% [2]. 3.2.2. Phân tích AEFI theo nhóm tuổi ![]() Bảng 2 cho thấy nhóm dưới 5 tuổi có tỷ lệ phản ứng cao nhất 16.7%, sau đó là nhóm 5-9 tuổi có tỷ lệ phản ứng là 15.6%, nhóm >10 tuổi có tỷ lệ phản ứng thấp nhất (1%). Các tỷ lệ phản ứng theo các nhóm tuổi khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê với ÷2= 14.59, p=0.00068. Các tỷ lệ phản ứng theo tuổi trong kết quả của chúng tôi thấp hơn nhiều so với thử nghiệm lâm sàng vắc xin MMR với phản ứng gặp chủ yếu ở nhóm trẻ dưới 2 tuổi (41,7%) [2]. 3.2.3. Phân tích AEFI trong nhóm A theo giới Trong 25 trẻ có AEFI do văc xin, có 13 trường hợp là nữ giới (52,0%), 12 trường hợp là nam giới (48,0%). Không có sự khác biệt theo giới về các AEFI do văc xin (p>0.05). 3.2.4. Phân tích AEFI theo dấu hiệu lâm sàng Trong 25 trẻ có AEFI do vắc xin, có 40 lượt AEFI được ghi nhận, trung bình 1.6 lượt AEFI trên một trẻ. Các triệu chứng thường gặp nhất là sốt nhẹ: 16 lượt (40.0%); nổi mề đay : 7 lượt (17.5%) và bị ngứa: 5 lượt (12.5%). Còn các triệu chứng khác như mệt mỏi, đau chỗ tiêm, phát ban, viêm tuyến nước bọt thì tần xuất xuất hiện thấp 2,5%. 3.2.5. Phân tích các lượt AEFI theo thời gian Trong 40 lượt AEFI, thời gian xảy ra các triệu chứng thường gặp nhất là 1-3 ngày sau khi tiêm chủng: 30 lượt (75.0%) với các triệu chứng thường gặp là sốt nhẹ (43,3%), nổi mề đay và ngứa. Triệu chứng xảy ra sau tiêm 4-7 ngày là 4 lượt (10.0%) và sau tiêm trên 7 ngày là 6 lượt (15.0%). Bảng 3. Liên quan giữa biểu hiện phản ứng và chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa khi so sánh giữa kết quả xét nghiệm huyết thanh lần III và lần I của 3 nhóm phản ứng. ![]() 3.2.6. Liên quan giữa biểu hiện phản ứng và chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa Mức độ chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa (ISR tăng³ 30% giữa xét nghiệm lần III so với kết quả xét nghiệm lần I ) trong nhóm không có phản ứng nào là 36/92 trường hợp (39,13% ), trong nhóm có các triệu chứng xảy ra trùng hợp ngẫu nhiên là 52/132 trường hợp (39,4%) và trong nhóm có các nhản ứng do vắc xin là 11/25 (44,0%). Không có sự khác biệt giữa các nhóm trên với nhau ( P>0,05). Như vậy, đáp ứng miễn dịch của cả ba nhóm đối với vắc xin Pavivac là không khác nhau có ý nghĩa thống kê. Nói cách khác mức độ chuyển đổi huyết thanh không liên quan tới tình trạng phản ứng do tiêm chủng. 4. Bàn luận Kết quả xét nghiệm chung phù hợp với thông tin của sản phẩm PAVIVAC là sự chuyển đổi huyết thanh đạt khoảng 75% sau khi tiêm vacxin mũi 1 và ít nhất là 95% sau khi tiêm mũi 2 [1]. Kết quả của nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả thử nghiệm thực địa vacxin TRIVIVAC (1993- 1994), sau khi tiêm 2 mũi có tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh tương ứng là 73% và 100% [3,5]. Sự khác nhau về chuyển đổi huyết thanh giữa nhóm 1 và nhóm 2 có ý nghĩa thống kê với P <0.0001. Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh thấp hơn của nhóm 2 có khả năng do kháng thể có sẵn trong cơ thể đã phần nào trung hòa vi rút của vacxin, như nhận xét của Stephanie và cộng sự [4]. Kết quả phân tích theo dấu hiệu lâm sàng của chúng tôi khác với thử nghiệm trên thế giới, với triệu chứng phát ban khoảng 40% và sau đó đến sốt khoảng 25-30%, còn các triệu chứng khác không có sự khác biệt [1,2]. Tóm lại, Pavivac là một vắc xin an toàn, không phát hiện phản ứng nghiêm trọng trong nghiên cứu. Trong số những trẻ được tiêm vắc xin có 10,1% xuất hiện các phản ứng sau tiêm chủng ở mức độ nhẹ như sốt, nổi mề đay, ngứa … Viêm tuyến nước bọt chỉ chiếm 0.4%, các phản ứng xảy ra trong vòng 2-3 ngày tự khỏi và không cần điều trị. Tỷ lệ trẻ bị phản ứng sau khi tiêm mũi 1 cao hơn so với sau khi tiêm mũi 2. Các phản ứng sau tiêm chủng xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, nhưng tỷ lệ phản ứng ở các nhóm tuổi nhỏ hơn cao hơn so với nhóm từ 10 tuổi trở lên và không có sự khác biệt theo giới của trẻ được tiêm chủng. Thời gian xảy ra các phản ứng thường gặp nhất là 1-3 ngày sau khi tiêm chủng. Pavivac có hiệu quả cao trong chuyển đổi huyết thanh cho các trẻ sau tiêm đủ 2 liều vắc xin, 100% tăng ISR có ý nghĩa ở trẻ chưa có kháng thể trước khi tiêm và 65% tăng ISR có ý nghĩa ở trẻ đã có kháng thể. Sự chuyển đổi huyết thanh sau tiêm mũi 1 cao hơn so với mũi 2, đặc biệt ở trẻ chưa có kháng thể trước khi tiêm. Không có sự khác nhau về sự chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa theo giới và nhóm tuổi. Không có mối tương quan giữa tình trạng phản ứng sau tiêm chủng với mức độ chuyển đổi huyết thanh có ý nghĩa. Kết luận chung là vắc xin Pavivac đảm bảo an toàn và hiệu quả tạo miễn dịch cao. Đây là vắc xin tốt cho phòng ngừa bệnh quai bị. - Để phòng bệnh quai bị tốt hơn, chúng ta nên sử dụng vắc xin Pavivac như một sự lựa chọn tốt để phòng bệnh quai bị. Vắc xin này có thể sử dụng cho trẻ trên 15 tháng tuổi càng sớm càng tốt
Tài liệu tham khảo 1. Đinh Kim Xuyến. Tình hình bệnh quai bị và sự tiêu thụ vắc xin Pavivac sau một năm lưu thông tại Việt nam. Bản trình bày phát tay tại hội thảo PAVIVAC được tổ chức tại Hà Nội ngày 12/6/2004. 2. Al-Mazrou Y, Tumsah S, Khalil M, Al-Jeffri M, Afzal MA. Safety evaluation of MMR vaccine during a primary school campaign in Saudi Arabia. Journal of Tropical Pediatrics 2002, 48(6): 354-358. 3. Galazka AM, Robertson SE, Kraigher A. Mumps and mumps vaccine: a global review. Bulletin Of The World Health Organization 1999, 77(1): 3-14. 4. Stephanie T. Yerkovich, Julie Rowe et al. 1Assessment of the potency and potential immunomodulatory effects of the MMR vaccine in infants. Vaccine Journal 2007, Volume 25, Issue 10, 26 February 2007. Pages: 570-576. 5. Steven Rubin, Jeremy Mauldin, Konstantin Chumakov et al. Serological and phylogenetic evidence of monotypic immune responses to different mumps virus strains. Vaccine Journal 2006, Volume 24, Issue 14, 25 March 2006. Pages: 2662- 2668. 6. Tetsuo Nakayama, Kazumasa Onoda. Vaccine adverse events reported in post- marketing study of the Kitasato Institute from 1994 to 2004. Vaccine Journal 2007, Volume 25, Issue 3, 5 January 2007. Pages: 570-576. Tạp chí Y tế Công cộng, 6.2008, Số 10 (10) 17 |
|||||
| Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:55 |
Các bài viết khác:
- THÔNG BÁO
- TIN HOẠT ĐỘNG HỘI Y TẾ CÔNG CỘNG VIỆT NAM
- Quan điểm của người tiêu dùng về cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá
- Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và các yếu tố liên quan ở gái mại dâm tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
- Phương pháp vo gạo, nấu cơm truyền thống làm mất một lượng rất lớn sắt, kẽm trong cơm
- Thấp còi, nhẹ cân và thiếu máu là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trên học sinh 11-14 tuổi tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên
- Thực trạng sức khỏe thanh thiếu niên huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương: Các kết quả sơ bộ từ dự án nghiên cứu dọc tại Chililab
- Sức khỏe sinh sản và tình dục của vị thành niên và thanh niên Việt Nam: Tình hình và các chính sách
- Thư của Tổng biên tập gửi bạn đọc













