Tiếng Việt (Vietnamese)
Banner

Polls

Content of the VPHA's website
 

Announcement

Latest report of the Vietnam Public Health Association was updated here. Please pay attention.

Upcoming Events

<<  May 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Publications

an pham
Content View Hits : 210126
Đánh giá chương trình đào tạo nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh Bạc Liêu năm 2007  E-mail
Written by Phạm Thị Nhã Trúc(*), Phạm Trí Dũng(**)   
Wednesday, 21 October 2009 21:53
Article Index
Đánh giá chương trình đào tạo nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh Bạc Liêu năm 2007
Page 2
All Pages
There are no translations available.

 

Nghiên cứu đã được tiến hành trên 97 nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) tại tỉnh Bạc Liêu được đào tạo trong năm 2007 nhằm đánh giá nội dung chương trình đào tạo nhân viên YTTB tại tỉnh Bạc Liêu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính trên nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau. Kết quả cho thấy, có 84,8% NVYTTB muốn tăng thêm số tiết và bổ sung thêm một số thông tin mới cho nội dung Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc các bệnh thông thường; 9,28% NVYTTB muốn giảm bớt một số nội dung vệ sinh phòng bệnh. Có 1 nội dung NVYTTB cần làm nhưng chưa được đưa vào chương trình đào tạo là Giáo dục giới tính vị thành niên (20,9%); Ngoài ra, NVYTTB còn đề nghị bổ sung thêm các thông tin mới vào giáo trình như: các bệnh phụ khoa và các phương pháp ngừa thai mới (27,9%); phòng chống dịch bệnh (25,6%) và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (32,6%). Các nhà quản lý đào tạo cần quan tâm xem xét và điều chỉnh lại nội dung chương trình đào tạo NVYTTB trong phạm vi cho phép để nâng cao hiệu quả công của NVYTTB tại cộng đồng.

 

Từ khóa: Y tế thôn bản, Chăm sóc sức khỏe ban đầu, Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hóa gia đình, Trạm y tế, truyền thông - giáo dục sức khỏe

 

Evaluation of the training program for village health workers in Bac Lieu province in 2007

 

Pham Thi Nha Truc(*), Pham Tri Dung(**)

 

 

The study was carried out on 97 Bac Lieu village heath workers (VHWs) trained in 2007 in order to evaluate training content curriculum for VHWs in Bac Lieu. This study combined qualitative and quantitative analysis on different study subjects. Findings from the study showed that 84.8% of VHWs would like to increase the number of class hours and add new information on the areas of Mother and Child Health Care, Family Planning and Treatment of common diseases; while 9.28% of VHWs would like to reduce the contents of hygiene and prevention. One area in the contents that is essential to VHWs but not included in the curriculum is Adolescent Sex Education (20.9%). Besides, VHWs recommended to include new information on Gynecological Diseases and new Birth Control Methods (27.9%), Epidemic Prevention (25.6%) and Elderly Health Care (32,6%). The VHWs curriculum could be revised with consideration of these results, so that performance of VHWs could be more effective.

 

Keywords: Village Health Workers (VHWs), Health Education, Training courses, Bac Lieu, Viet Nam

 

1. Đặt vấn đề

Nhân viên y tế cộng đồng đóng góp những vai trò quan trọng trong các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì CSSKBĐ khác với chăm sóc y tế, CSSKBĐ là chăm sóc thiết yếu, có sẵn và phải được tiếp cận với người dân, việc CSSKBĐ thường phải đi đôi với việc đào tạo nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB). Thực tế việc đào tạo NVYTTB đã được triển khai thực hiện từ lâu và rất thành công tại Trường Y tế Cộng đồng Liverpool và một số nước khác như: Tanzania, Siera Leon, Mehico... Để phục vụ cho việc đào tạo NVYTTB, WHO đã biên soạn nhiều chương trình đào tạo thông qua nhiều Dự án của các tổ chức quốc tế như: World Bank, ADB, UNICEF... cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [3], [4], [5].

Tại Việt Nam, từ năm 1989 đến năm 1993 hàng loạt chương trình, giáo trình đào tạo đã được Bộ Y tế biên soạn lại, cập nhật kiến thức hoặc viết mới cho phù hợp với xu thế của công tác đào tạo và đây cũng là giai đoạn mà Bộ Y tế nước ta chính thức đưa chủ trương, chương trình và giáo trình đào tạo NVYTTB vào các Trường Trung học Y tế với mục tiêu phấn đấu đến năm 2010, 100% số thôn, bản, ấp có nhân viên y tế với trình độ sơ học trở lên [1].

Nghiên cứu của tác giả Lương Văn Tiến về đánh giá nhu cầu, nội dung đào tạo lại NVYTTB tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn năm 2005 cho thấy hoạt động truyền thông - giáo dục sức khoẻ (TT- GDSK) thường xuyên sử dụng là: kỹ năng nghe, hỏi và khuyên bảo (89,9%); thăm hộ gia đình để TT- GDSK (81,9%). Các hoạt động về Vệ sinh phòng bệnh (VSPB) chủ yếu tập trung vào các nội dung: hướng dẫn ăn uống hợp lý và hợp vệ sinh (87,3%); biện pháp phòng chống dịch (71,7%). Các nội dung về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em - kế hoạch hóa gia đình (CSSKBMTE-KHHGĐ) được NVYTTB thực hiện chiếm tỷ lệ từ 62,4% đến 82,3%. Các nội dung về Sơ cứu ban đầu, chăm sóc bệnh thông thường được NVYTTB thường xuyên sử dụng là: các kỹ thuật chăm sóc người bệnh (69,6%); phát hiện và chăm sóc bệnh thông thường (69,6%). NV YTTB tham gia thực hiện các chương trình y tế chiếm tỷ lệ cao từ 83,1% đến 92,4% [2].

Từ khi nước ta triển khai chương trình đào tạo NVYTTB đến nay có nhiều nghiên cứu đánh giá về thực trạng hoạt động của NVYTTB và đánh giá nhu cầu đào tạo lại nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá lại nội dung chương trình đào tạo đã triển khai từ nhiều năm qua có phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe hiện nay. Chính vì vậy, chúng tôi không có nhiều tài liệu tham khảo để so sánh kết quả đánh giá với các vùng khác, đây cũng là một trong những hạn chế của nghiên cứu này. Trong nghiên cứu này chúng tôi triển khai đánh giá nội dung chương trình đào tạo NVYTTB trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, tìm hiểu về hoạt động của NVYTTB sau khi được đào tạo, trên cơ sở đó xem xét những nội dung cần phải bổ sung, cần thay đổi và những tài liệu tham khảo nào NVYTTB muốn được đọc thêm để tăng kiến thức khi hoạt động tại cộng đồng. Chúng tôi hi vọng, kết quả nghiên cứu có thể giúp cho các nhà quản lý đào tạo nhân viên NVYTTB tỉnh Bạc Liêu nói riêng và Bộ Y tế nói chung có những thông tin tin cậy để đưa ra các giải pháp và nội đào tạo phù hợp cho đối tượng này.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính với toàn bộ 97 NVYTTB đã được đào tạo năm 2007 theo danh sách của Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu, hiện đang làm việc tại 3 huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai, Đông Hải, và toàn bộ 10 cán bộ tại tuyến huyện trực tiếp tham gia giảng dạy cho các đối tượng nay thông qua bộ câu hỏi điều tra đã được thiết kế sẵn.

Phân tích và xử lý số liệu

Tất cả các số liệu định lượng thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ được mã hóa, làm sạch trước khi nhập bằng chương trình EpiData 3.1, sau đó sử dụng phần mềm SPSS 12.0 để thực hiện các phân tích.

Các cuộc phỏng vấn sâu được xử lý bằng cách trích dẫn nội dung phỏng vấn qua băng ghi âm và ghi chép theo từng chủ đề phân tích.

 


3. Kết quả nghiên cứu

Có 34% NVYTTB đề nghị tăng thời gian và nội dung trong chương trình đào tạo, hai nội dung được đề nghị nhiều nhất là CSSKSS - CSSKBMTE - KHHGĐ và chăm sóc các bệnh thông thường (84,9%). Tuy nhiên có 9,28% NVYTTB đề nghị giảm bớt nội dung trong chương trình đào tạo, nội dung NVYTTB đề nghị giảm là VSPB.

Có rất ít NVYTTB không muốn tập huấn hay đào tạo lại (20,6%), phần lớn NVYTTB đều muốn được đào tạo lại (79,4%). Các nội dung được NVYTTB quan tâm nhiều nhất là CSSKSS - CSSKBMTE - KHHGĐ (28,9%) và chăm sóc các bệnh thông thường (22,7%). Nội dung ít được quan tâm là GDSK (4,1%) và VSPB (6,2%). Ngoài ra, có 14,4% có nguyện vọng muốn được đào tạo lại tất cả các nội dung đã được học để hiểu và tự tin hơn trong công việc.

 

  

 Về nội dung VSPB: "...yếu tố môi trường hiện nay đã khác trước vì thế cần đưa thêm vào chương trình tất cả yếu tố môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa giúp cho NVYTTB kịp thời nắm bắt được thông tin mới để họ có thể quản lý tình hình của địa phương" (ý kiến của cán bộ giảng).

Về nội dung CSSKSS: "...phải đưa thêm vào chương trình đào tạo cho NVYTTB biết về vấn đề phương pháp tính dân số học, để có thể giúp cho việc đánh giá chương trình KHHGĐ thành công hay không thành công tại địa bàn người ta quản lý" (ý kiến của cán bộ giảng).

Đối với nội dung chăm sóc các bệnh thông thường: "... nên đưa thêm chương trình ngộ độc vệ sinh thực phẩm vào giảng dạy vì hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng đang là điểm nóng trong nước ta" (ý kiến của cán bộ giảng).

Đối với từng nội dung trong chương trình đào tạo, khi Trường CĐYT Bạc Liêu tiếp tục đào tạo cho NVYTTB thì cần lưu ý là xây dựng lại nội dung trong giáo trình và chọn lựa những bài thay thế phù hợp với điều kiện địa phương để đưa vào chương trình đào tạo. Đối với các nội dung còn lại, các cán bộ giảng và NVYTTB đều cho rằng đã phù hợp, không cần bổ sung thêm.

Khi được hỏi về nhu cầu tập huấn và đào tạo lại những nội dung, chủ đề đã được học thì 79,4% NVYTTB có nhu cầu muốn được đào tạo lại với lý do là có nhiều kiến thức đã bị quên vì không làm thường xuyên và cần được nhắc lại để làm việc tốt hơn, trong đó nội dung CSSKSS - CSSKBMTE - KHHGĐ (28,9%) và chăm sóc các bệnh thông thường (22,7%) được YTTB quan tâm nhiều nhất.

Khi được hỏi về lý do bổ sung thêm thông tin mới cho nội dung CSSKBMTE - KHHGĐ và chăm sóc các bệnh thông thường vào chương trình đào tạo, một YTTB cho biết "...dân ở đây người ta có theo dõi trên ti vi các chương trình sức khỏe nên người ta biết nhiều thông tin mới lắm, mình mà không biết sâu vấn đề thì làm sao dám đi truyền

thông cho người ta". Có 9,28% NVYTTB đề nghị giảm một số nội dung VSPB vì cho rằng một số bài chưa phù hợp với điều kiện địa phương và một cán bộ giảng cho biết thêm:"Xét về điều kiện địa phương thì chủ đề VSPB không phù hợp với địa phương mình lắm như bài nước và xử lý phân, nhà tiêu hợp vệ sinh. Nội dung của những bài này phù hợp với hoạt động của NVYTTB ở vùng sâu, vùng xa, miền núi của các tỉnh phía Bắc nhiều hơn, không phù hợp với điều kiện địa lý và tập quán sống của người dân tỉnh mình".

Có 4 nội dung NVYTTB cần làm tại địa phương nhưng chưa được đào tạo là Giáo dục giới tính vị thành niên (20,9%), các bệnh phụ khoa (27,9%), phòng chống dịch bệnh (25,6%) và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (32,6%).

Qua kết quả nghiên cứu, có 1 nội dung hoàn toàn mới, nhưng đòi hỏi của thực tế và NVYTTB đang làm tại địa phương nhưng chưa được đề cập đến trong nội dung giảng dạy và giáo trình là: "Giáo dục giới tính vị thành niên". Ngoài ra, NVYTTB còn đề nghị bổ sung thêm các thông tin mới về các bệnh phụ khoa và KHHGĐ (27,9%); phòng chống dịch bệnh (25,6%) và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (32,6%) để họ được cập nhật các thông tin truyền thông có hiệu quả cho người dân.

Có 10 tài liệu NVYTTB muốn tham khảo thêm nhưng chủ yếu là CSSKSS, các bệnh phụ khoa (18,5%), chăm sóc các bệnh thông thường, những bệnh mới, lạ (18,5%), CSSKBMTE - KHHGĐ (15,4%), sổ tay sử dụng thuốc (12,3%).

Có 2/10 cán bộ giảng đề nghị chỉnh sửa bố cục nội dung TT - GDSK và VSPB, 2/20 cán bộ giảng đề nghị tăng thời gian đi cộng đồng cho học viên, và mỗi năm nên tổ chức tập huấn hay đào tạo lại để nhắc lại kiến thức cho NVYTTB.

 

4. Bàn luận

 

4.1. Nội dung chương trình đào tạo

Về cơ bản nội dung chương trình viết đã đủ, có thể giúp cho NVYTTB thực hiện được vai trò quản lý CSSK hoặc TT - GDSK cho người dân. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, đã xuất hiện nhiều bệnh, dịch mới nên có một số nội dung trong chương trình cần sửa đổi và bổ sung vì một số bài đã cũ, không phù hợp với tình hình y tế của địa phương.

 

4.2. Nội dung cần được bổ sung trong chương trình đào tạo

Theo chúng tôi, đưa nội dung “Giáo dục giới tính vị thành niên” vào chương trình đào tạo là một dấu hiệu tốt cho công tác CSSKBĐ tại tuyến y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu - Các NVYTTB trong quá trình hoạt động đã phát hiện được các nhu cầu của cộng đồng và mong muốn được trang bị các kiến thức cần thiết để tư vấn và truyền thông có hiệu quả.

Một cán bộ giảng cho rằng: "Cần bổ sung thêm một số thông tin vào nội dung bài CSSK cho người già trong giáo trình, bài này viết sơ sài, không đủ cho họ làm tài liệu khi về địa phương hoạt động" và "nên bổ sung thêm cả nội dung về giáo dục giới tính vị thành niên vào chương trình để họ có thể về địa phương làm công tác tuyên truyền...".

Đây là một trong những vấn đề mà Trường Cao đẳng y tế Bạc Liêu cần quan tâm xem xét lại để có thể điều chỉnh các nội dung đào tạo trong phạm vi cho phép nhằm đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo cho học viên sau đào tạo có kiến thức, kỹ năng đáp ứng đòi hỏi của công việc. Theo chúng tôi, những nội dung này nên đưa vào chương trình đào tạo lại, giúp cho chương trình đào tạo lại phong phú hơn và thu hút người hơn.

 

4.3. Những tài liệu YTTB muốn tham khảo thêm

Tuy tỷ lệ NVYTTB có nhu cầu đọc thêm tài liệu là không nhiều nhưng đây là những tài liệu hỗ trợ thiết yếu những nội dung NVYTTB phải thực hiện hàng ngày tại cộng đồng. Qua những mong muốn của NVYTTB cho thấy họ phải rất yêu thích công việc, luôn muốn mong muốn trang bị thêm nhiều kiến thức nhằm CSSK cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Chính vì vậy, các cơ sở đào tạo NVYTTB nói riêng, Ngành Y tế nói chung cần xem xét soạn thảo các tài liệu nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của các nhân viên y tế cộng đồng, các cẩm nang này chắc chắn sẽ giúp họ hoạt động ngày càng tốt hơn.

Tóm lại, đối với nội dung chương trình về cơ bản đã đủ có thể giúp cho NVYTTB thực hiện được vai trò, nhiệm vụ của mình tại cộng đồng. Tuy nhiên đại đa số NVYTTB muốn tăng thêm số tiết và bổ sung thêm một số thông tin mới cho nội dung CSSKBMTE - KHHGĐ và chăm sóc các bệnh thông thường; giảm bớt một số nội dung trong chủ đề VSPB. Có 1 nội dung NVYTTB cần làm và đang làm tại địa phương nhưng chưa được đào tạo là: "Giáo dục giới tính vị thành niên".

 

Chúng tôi có một số khuyến nghị sau:

Đối với Trường CĐYT Bạc Liêu:

- Điều chỉnh trong phạm vi cho phép những nội dung đào tạo để đáp ứng được yêu cầu đào tạo, đảm bảo cho học viên vừa lĩnh hội được kiến thức vừa có điều kiện rèn luyện kỹ năng.

- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn đồng thời lập kế hoạch triển khai đào tạo lại để bù đắp những thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng cho YTTB.

Đối với Bộ Y tế

Triển khai thêm các nghiên cứu về đánh giá nội dung chương trình đào tạo YTTB trên các vùng, miền khác nhau để từ đó có thể so sánh và biên soạn lại tài liệu đào tạo và đào tạo lại nhân viên YTTB phù hợp hơn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng khu vực.


Lời cảm ơn

 

Các tác giả xin chân thành cảm ơn Sở Khoa học Công nghệ và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu cùng Trường Đại học Y tế Công cộng đã hỗ trợ cho nghiên cứu này, đồng thời chân thành cảm tất cả anh chị NVYTTB 3 huyện nghiên cứu của tỉnh Bạc Liêu cùng các cán bộ tham gia đào tạo NVYTTB bản đã nhiệt tình tham gia trả lời phỏng vấn để chúng tôi có được bộ số liệu của đề tài này.

 


Tác giả

 

(*): CN. Phạm Thị Nhã Trúc, Trưởng Bộ môn Xét nghiệm, Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu. Phòng đào tạo Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu. E-mail: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it hoặc This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it . Điện thoại: 0983 897 365

(**): PGS. TS. Phạm Trí Dũng, Phó trưởng Khoa Quản lý Y tế, Trường Đại học Y tế công cộng.

E-mail: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it hoặc This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it . Điện thoại: 0983 588 268

 

Tài liệu tham khảo

 

Tiếng Việt

 

1. Ban chấp hành trung ương Đảng (2002), Chỉ thị số 06- CT/TW ngày 22/10/2002 về việc củng cố và hoàn thiện mạng lưới Y tế cơ sở.

 

2. Lương Văn Tiến (2005), Xác định nhu cầu, nội dung đào tạo lại nhân viên YTTB tại Huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng sơn giai đoạn 2005 - 2010, Luận văn Thạc sỹ YTCĐ, Học viện Quân Y, Hà Nội.

 

Tiếng Anh

 

3. David Werner (1991), Health care - where there is no doctor (A Village Health Care handbook) Paloalto, California.

 

4. David Werner (1977), The Village Health Worker - Lackey or Liberator?, HealthWrights Workgroup for People's Health and Rights, Available at http://www.healthwrights.org/articles/lackey_or_liberator. htm. Accessed July 20, 2008.

 

5. Fred Abbatt and Rose mary McMahon (1985), Teaching health care workers, Liverpool.

 

Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:58
 
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat