Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.| Đánh giá mục tiêu kiểm soát thiếu hụt Iốt sau 3 năm kết thúc dự án phòng chống các rối loạn do thiếu iốt tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai năm 2008 | PDF. |
| Viết bởi BS. Trần Thị QUỳnh Như. TS.BS. Hoàng Kim Ước. TS. Phạm Việt Cường | ||||
| Thứ năm, 22 Tháng 10 2009 16:36 | ||||
Trang 1 của 2 Điều tra cắt ngang đánh giá mục tiêu kiểm soát thiếu hụt iốt 3 năm sau khi kết thúc dự án quốc gia phòng chống các rối loạn do thiếu iốt (PC CRLTI) được tiến hành tại thành phố Pleiku, Gia Lai từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2008. Tổng số có 1.555 học sinh (HS) 8 - 10 tuổi đã được khám đánh giá tỷ lệ bướu cổ, 130 em trong số này được định lượng iốt niệu, 331 bà mẹ HS được đánh giá kiến thức, thực hành về PC CRLTI và lấy mẫu muối đang sử dụng tại gia đình để định lượng iốt. Kết quả cho thấy chương trình PC CRLTI tại thành phố Pleiku đạt và duy trì được mục tiêu kiểm soát thiếu hụt iốt mà chương trình quốc gia và WHO đặt ra: Tỷ lệ bướu cổ HS 8 - 10 t là 2,2%, mức iốt niệu trung vị đạt 145 ìg/L, tỷ lệ hộ gia đình (HGĐ) sử dụng muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh (TCPB) đạt 91,8%. Tỷ lệ mẫu nước tiểu có nồng độ iốt niệu < 50 ìg/L là 7%, tỷ lệ mẫu nước tiểu có nồng độ iốt niệu < 100 ìg/L là 29,3%. Kiến thức, thực hành đúng của bà mẹ về PC CRLTI đã có sự cải thiện rõ rệt so với kết quả cuộc điều tra tại Gia Lai năm 2005. Từ khóa: Các rối loạn do thiếu hụt iốt, bướu cổ, mức iốt niệu, sử dụng muối iốt
Goitre prevalance, knowledge and practice on iodine deficency control in Pleiku city, Gia Lai province in 2008 A cross - sectional study was carried out in Pleiku city, Gia Lai province from April to September, 2008 in order to assess the iodine deficiency control goal after 3 years since the end of the National Iodine Deficiency Disorders Control project. As many as 1,555 school - age children (between 8 and 10 years old) were given goiter examination by palpation; 130 random urine samples of these children were collected to assess the median urinary iodine concentration; and 331 pupils' mothers were interviewed to assess their knowledge, attitudes and practices about the iodine deficiency disorders control program. Results: The goal of iodine deficiency control set by WHO and the National Program has been reached and still maintained. The goiter prevalence among children aged from 8 to 10 years is 2.2%. The median urinary iodine concentration is 145ìg/L. The percentage of households using adequately iodized salt is 91.8%. Only 7% of urine samples have urinary iodine level under 50 ìg/L and 29.3% of urine samples have urinary iodine level under 100 ìg/L. Improvement of knowledge and practices of pupils' mothers about the iodine deficiency disorders control program was made to compare with the result of Gia Lai KAP survey in 2005.
Keywords: iodine deficiency, iodine deficiency disorders, goiter palpation, goiter prevalence, urinary iodine concentration, iodized salt
1. Đặt vấn đề Iốt là một vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của con người. Thiếu hụt iốt dẫn đến các rối loạn do thiếu iốt (CRLTI) như bướu cổ, đần độn, thiểu năng trí tuệ, sẩy thai, đẻ non, làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, sự phát triển giống nòi và cả nền kinh tế xã hội. Năm 1991 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Ủy hội quốc tế phòng chống CRLTI (ICCIDD) đã đưa ra quyết tâm thanh toán CRLTI vào năm 2000 trên phạm vi toàn cầu. Năm 1993, WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc (UNICEF) đã đề nghị iốt hoá toàn bộ muối ăn như một chiến lược chủ yếu để thanh toán CRLTI. Việt Nam là nước nằm trong khu vực thiếu iốt. Từ năm 1995 đến nay, chương trình PC CRLTI đã được triển khai trên toàn quốc với các giải pháp chính là bổ sung iốt vào muối ăn, tuyên truyền vận động người dân mua và sử dụng muối iốt (MI), khám chữa bệnh chuyên khoa, giám sát chất lượng MI. Năm 2005, theo kết quả điều tra quốc gia của Bệnh viện Nội tiết trung ương, dựa vào những tiêu chuẩn của WHO/ICCIDD/UNICEF, Việt Nam đã đạt được mục tiêu thanh toán CRLTI trong phạm vi toàn quốc căn cứ vào 3 chỉ số: tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đủ TCPB đạt 93,2% (mục tiêu là 90%); mức iốt niệu trung vị đạt 122µg/L (mục tiêu 100 - 200µg/L); tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8 - 10 tuổi đạt 3,6% (mục tiêu là 5%). Tuy vậy, việc duy trì bền vững các thành quả đạt được trong những năm tiếp theo (giai đoạn 2006 - 2010) là hết sức cần thiết và cũng là thách thức của chương trình PC CRLTI. Đánh giá là một trong các hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo duy trì bền vững thành quả đạt được và được khuyến khích thực hiện định kỳ 3 -5 năm/ lần trên phạm vi toàn quốc bao gồm điều tra kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) PC CRLTI của phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ) và điều tra tỷ lệ BC trẻ em 8 - 10 tuổi. Pleiku là thành phố tỉnh lỵ của Gia Lai, một tỉnh nghèo của Tây Nguyên. Kể từ sau năm 2005, các hoạt động chương trình PC CRLTI của tỉnh và thành phố vẫn được tiếp tục duy trì với nguồn kinh phí hạn hẹp từ ngân sách địa phương. Nghiên cứu "Đánh giá mục tiêu kiểm soát thiếu hụt iốt sau 3 năm kết thúc dự án quốc gia phòng chống CRLTI tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai năm 2008" được tiến hành với mục tiêu (i) xác định tỷ lệ bướu cổ và nồng độ iốt niệu của HS 8-10 tuổi, (ii) xác định tỷ lệ HGĐ HS sử dụng MI đủ TCPB theo khuyến cáo mới của WHO và (iii) đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ HS về PC CRLTI
2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa vào trường học được triển khai tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2008. Đối tượng nghiên cứu: (i) 1555 HS 8-10 tuổi đang học lớp 3-4 của 10 trên tổng số 33 trường tiểu học của thành phố Pleiku, được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn: chọn trường và chọn lớp. (ii) tại mỗi trường chọn 13 HS trong số các HS đã được khám bướu cổ theo phương pháp ngẫu nhiên đơn để thu thập mẫu nước tiểu đem định lượng iốt niệu. Tổng cộng có 130 mẫu nước tiểu. (iii) 331 bà mẹ HS được chọn ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách HS khám bướu cổ để phỏng vấn và lấy mẫu muối để định lượng iốt muối. Phương pháp thu thập số liệu: (i) Khám lâm sàng và đánh giá tình trạng bướu cổ theo hướng dẫn của WHO và chương trình PC CRLTI quốc gia; (ii) Mẫu nước tiểu được thu thập theo đúng hướng dẫn của chương trình PC CRLTI quốc gia (5 ml nước tiểu được lấy vào ống nghiệm có nắp đậy kín, bảo quản lạnh để tránh sinh hơi và gửi đến phòng xét nghiệm chuẩn quốc gia của chương trình tại Trung tâm phòng chống Sốt rét và bướu cổ tỉnh Bình Định để xét nghiệm). Định lượng iốt niệu theo phương pháp động học xúc tác (phản ứng Sandell - Kolthoff) khử bằng axít Chloric (iii) - Định lượng iốt trong muối: Mẫu muối được thu thập tại HGĐ (30g muối/mẫu, tương đương 01 muỗng canh). Sử dụng phương pháp chuẩn độ theo hướng dẫn của Dự án PCBC - Bộ Y tế và (iv) Phỏng vấn bà mẹ theo bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu có tham khảo phần điều tra kiến thức và thực hành sử dụng MI của chương trình PC CRLTI của Bệnh viện Nội tiết trung ương. Các số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.0. Số liệu được giám sát và kiểm tra 10% số phiếu nhằm tránh sai số trong quá trình nhập số liệu. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 15.0. Sử dụng các test thống kê thích hợp (Z test, ÷2)
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tỷ lệ bướu cổ Tổng số HS được khám điều tra bướu cổ là 1555 em, lứa tuổi từ 8 đến 10 tuổi. Tỷ lệ HS nam và nữ tham gia nghiên cứu tương đương nhau. Tỷ lệ HS tham gia vào nghiên cứu của nhóm 9 tuổi cao hơn nhóm 8 tuổi và 10 tuổi. HS người Kinh chiếm đa số (86,5%). HS người dân tộc chủ yếu là người Jarai (13,1%). Tỷ lệ bướu cổ của HS 8 - 10 tuổi của TP Pleiku năm 2008 là 2,2%, khoảng tin cậy 95% : 1,47% - 2,93%, thấp hơn mục tiêu đặt ra có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), đạt mục tiêu thanh toán CRLTI của quốc gia. Bướu cổ độ 1 chiếm tỷ lệ 100% các trường hợp; 97,1% là bướu thể lan tỏa và 2,9% là bướu nhân.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ bướu cổ của HS 8 - 10 tuổi theo giới (2,2% với p > 0, 05), theo tuổi (÷2=0,27, p > 0,05) và theo nơi cư trú (÷2=0,18; p > 0,05) . Tuy nhiên tỷ lệ bướu cổ của các HS người dân tộc Jarai cao hơn HS người Kinh có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) 3.2. Mức iốt niệu trung vị: 145 µg/L, đạt mục tiêu thanh toán CRLTI (100 - 200 µg/L).
3.3. Tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đủ TCPB Tỷ lệ HGĐ sử dụng muối/bột canh iốt đạt TCPB theo khuyến cáo mới của WHO là 91,8% đạt mục tiêu thanh toán CRLTI. Khoảng tin cậy 95% : 88,8 - 94,8% Tỷ lệ HGĐ sử dụng muối hoặc bột canh không có iốt là rất thấp chiếm 0,6% Bảng 2. Tỷ lệ HGĐ học sinh sử dụng MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh
Tỷ lệ bà mẹ hiểu đầy đủ các tác hại do thiếu iốt và lợi ích của việc sử dụng MI ở nhóm bà mẹ người Kinh (18,8% và 18,1%) cao hơn nhóm bà mẹ người Jarai (6,4%) có ý nghĩa thống kê (p<0,01) và ở nhóm bà mẹ có trình độ văn hóa từ THCS trở lên (20,2% và 18,9%) cao hơn nhóm bà mẹ có trình độ dưới THCS (9,7% và 10,7%) (p < 0,01). Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho các đối tượng bà mẹ học sinh trên địa bàn thành phố Pleiku là tivi (83,9%), kế đến là từ cán bộ y tế (52,5%). Và đây cũng là hai kênh truyền thông mà người dân yêu thích.
|
||||
| Cập nhật ngày Thứ năm, 22 Tháng 10 2009 19:01 |
- TIN HOẠT ĐỘNG HỘI Y TẾ CÔNG CỘNG VIỆT NAM
- Kết hợp đa ngành: Một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các chương trình can thiệp y tế công cộng
- Phơi nhiễm thụ động với thuốc lá ở phụ nữ và trẻ em tại gia đình
- Nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống sốt xuất huyết tại xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, 2006 - 2008
- Suy dinh dưỡng thấp còi và thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại 2 xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá chương trình đào tạo nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh Bạc Liêu năm 2007
- Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới và ở Việt Nam
- Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc













