| Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới và ở Việt Nam |
| Viết bởi Lê Cự Linh | ||||||
| Thứ tư, 21 Tháng 10 2009 21:36 | ||||||
Trang 3 của 3
4. Bàn luận Những số liệu được phân tích và tổng hợp trên đây cho thấy một bức tranh chung của châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Về cơ bản, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc đánh giá rằng trong khu vực châu Á thì Đông Nam Á vẫn còn chưa gặp phải sự mất cân bằng về tỷ số giới tính khi sinh trầm trọng như một số quốc gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ hay một vài quốc gia Trung Á khác [13]. Tuy vậy, những nghiên cứu và thống kê tại Việt Nam đã cho thấy thực trạng vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh là có thực và đang có xu hướng tăng lên tại Việt Nam. Một số tác giả, thậm chí còn phân tích rằng xu hướng và tốc độ tăng lên của SRB ở Việt Nam là khá nhanh. Mặc dù bắt đầu biến đổi muộn hơn ở Trung Quốc và Hàn Quốc (từ thập niên 1980), SRB ở Việt Nam đã tăng nhanh từ mức bình thường (105) cách đây khoảng 8 năm lên tới khoảng 111 vào 2 năm trở lại đây [15]. Mức tăng này thậm chí nhanh hơn cả thời kỳ đầu có sự mất cân bằng SRB ở Trung Quốc và Hàn Quốc. Nhìn nhận tình hình biến động SRB ở những nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, v.v... cũng như các yếu tố có liên quan, góp phần gây ra tình trạng mất cân bằng ở các nước này cho thấy Việt Nam cũng có gần như đầy đủ các đặc điểm về kinh tế, dân số và văn hoá-xã hội cho sự mất cân bằng rõ rệt. Trước tiên, Việt Nam cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo và hệ thống cấu trúc xã hội mang đậm nét phụ quyền và phụ hệ trong gia đình. Sự ưa thích có con trai và cố ý lựa chọn giới tính thai nhi thông qua nạo phá thai ở Việt Nam là rõ ràng, được nhiều nghiên cứu đề cập [5], [2]. Thứ hai, chính sách dân số với sự hạn chế sinh con kết hợp với sự quá độ về dân số tại Việt Nam đặc trưng bởi mức sinh thấp và giảm nhanh trong vòng 10-15 năm gần đây càng làm cho Việt Nam mang nhiều nét gần với Trung Quốc, dù chưa đến mức như vậy. Thứ ba, nạo phá thai cũng như các dịch vụ siêu âm chẩn đoán giới tính khi sinh rất phổ biến hiện nay, càng làm cho các cặp vợ chồng tại Việt Nam dễ dàng đưa ra quyết định trong các trường hợp mang thai với giới tính không như mong muốn [15]. Ngoài ra, tư tưởng trọng nam và một số vấn đề về bất bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam càng khắc sâu thêm tâm lý mong muốn có con trai trong xã hội, hứa hẹn mang đến tương lai được đảm bảo hơn. Cuối cùng, Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển và chuyển đổi nền kinh tế, càng làm cho hành vi sinh sản của các cặp vợ chồng mang theo những toan tính mang tính kinh tế, và càng dễ dẫn tới việc tìm cách lựa chọn có con trai. Những vấn đề mà các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đang gặp phải từ sự mất cân bằng SRB chính là những bài học cho Việt Nam. Như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, vấn đề này có thể gây ra những hệ quả xã hội sau 25 năm hay hơn nữa và nên được quan tâm sớm. Những giải pháp và kinh nghiệm của các nước cho thấy cần sự phối hợp đa ngành cũng như nhiều hình thức can thiệp đồng thời [13]. Rất nhiều nước đã sớm ban hành các đạo luật và qui định cấm nạo phá thai có giới tính không mong muốn (ví dụ: Hàn Quốc vào năm 1987 và Trung Quốc vào năm 1989). Bên cạnh đó, các giải pháp can thiệp xã hội dựa trên truyền thông thay đổi nhận thức và hành vi cũng như vận động chính sách cũng được coi là vô cùng quan trọng. Những chiến dịch từ vận động nữ quyền, đấu tranh về bình đẳng giới, cho tới chỉnh sửa luật thừa kế, luật về bình đẳng giới và chống bạo hành gia đình,v.v… đều góp phần vào quá trình này. Trong bối cảnh sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, sự thịnh vượng và đi lên về mức sống cũng như dân trí của toàn xã hội cũng được đánh giá là có tác động căn bản, giúp nâng cao địa vị của phụ nữ, tăng cường vai trò, sự tự chủ của phụ nữ cũng như đóng góp kinh tế của họ.
Tài liệu tham khảo:
Tiếng Việt:
1. Võ Anh Dũng, Phương Thị Thu Hương, Nguyễn Ngọc Huyên & Lê Thanh Sơn (2006), "Tỷ số giới tính khi sinh của VN và một số địa phương những năm gần đây: Hiện trạng và bàn luận", Dân số và phát triển, 1(58), pp. 21-28.
2. Nguyễn Hải & Lê Cự Linh (2006), "Thực trạng sinh con thứ ba trở lên và lý do ảnh hưởng tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh", Tạp chí Y học Dự phòng, XVI(3+4(83)), pp. 38-43.
3. Hoàng Văn Huỳnh & Lê Thị Vui (2007), "Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005", Tạp chí Y tế Công cộng, 9pp. 40-44.
4. Lê Cự Linh, Đặng Nguyên Anh, Nguyễn Đình Cử, Phạm Đại Đồng, Phạm Thị Thiềng, Nguyễn Nam Phương, Nguyễn Kim Bình & Đỗ Xuân Sơn (2006), Giáo trình Dân số và Phát triển, Nhà xuất bản Y học.
5. Nguyễn Thị Vũ Thành & Lê Cự Linh (2005), "Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ ba trở lên tại Hà Nội", Dân số và phát triển, 6(51), pp. 22-27.
6. Tổng cục thống kê (2006), Báo cáo kết quả-Điều tra biến động dân số, nguồn lao động và KHHGĐ 1/4/2006, GSO, Hà Nội.
Tiếng Anh:
7. Li, S. & Feldman, M. W. (1996), "Sex difference in infant and child mortality in China: Levels, trends and variations", Chinese Journal of Population Science, 1pp. 7-21. (in Chinese)
8. Retherford, R., Choe, M., Chen, J., Li, X. & Cui, H. (2004), "China's fertility, how much it has declined", Population Research, 4pp. 3-15. (in Chinese)
9. Banister, J. (2004), "Shortage of girls in China today", Journal of Population Research, 21(1), pp. 19-45.
10. Chow, E. & Berheide, C. W. (2004), Global Perspectives: Women, Family and Public Policies (Chinese Edition) Social Science Document Press.
11. Croll, E. (2001), Endangered Daughters: Discrimination and Development in Asia, London: Routledge.
12. Douglas Almond & Lena Edlund (2008), "Son-biased sex ratios in the 2000 United States Census", Proceedings of the National Academy of Sciences, 105(15), pp. 5681- 5682.
13. Guilmoto, C. (2007), Sex-ratio imbalance in Asia: Trends, consequences and policy responses, 4th Asia Pacific Conference on Reproductive Health and Rights, UNFPA, Hyderabad, India.
14. Guilmoto, C. (2007), Characteristics of Sex-Ratio Imbalance in India and Future Scenarios, 4th Asia Pacific Conference on Reproductive Health and Rights, UNFPA, Hyderabad, India.
15. Guilmoto, C., Hoang, X. & Ngo, V. T. (2009), Recent Increase in Sex Ratio at Birth in Viet Nam, PLoS ONE 4(2): e4624. 16. Gupta, M. D., Zhenghua, J., Bohua, L., Zhenming, X., Chung, W. & Hwa-Ok, B. (2003), "Why is Son preference so persistent in East and South Asia? a cross- country study of China, India and the Republic of Korea", Journal of Development Studies, 40(2), pp. 153-187.
17. Jacobsen, R., Moller, H. & Mouritsen, A. (1999), "Natural variation in the human sex ratio", Human Reproduction, 14(12), pp. 3120-3125.
18. Lerchl, A. (1998), "Seasonality of sex ratio in Germany", Human Reproduction, 13(5), pp. 1401-1402.
19. Li, S. (2007), Imbalanced Sex Ratio at Birth and Comprehensive Intervention in China, 4th Asia Pacific Conference on Reproductive Health and Rights. 20. Linh Cu Le (2006), "Unintended live birth vs. Abortion: What factors affect the choices of Vietnamese women and couples?", Asia-Pacific Population Journal, 21(2), pp. 45-66.
21. Sylvie Dubuc & David Coleman (2007), "An Increase in the Sex Ratio of Births to India-born Mothers in England and Wales: Evidence for Sex-Selective Abortion", Population and Development Review, 33(2), pp. 383-400.
22. The Institute for Social Development Studies (2007), New "Common Sense": Family-Planning Policy and Sex Ratio in Viet Nam, 4th Asia Pacific Conference on Reproductive Health and Rights, UNFPA, Hyderabad, India.
|
||||||
| Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:58 |
- TIN HOẠT ĐỘNG HỘI Y TẾ CÔNG CỘNG VIỆT NAM
- Kết hợp đa ngành: Một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các chương trình can thiệp y tế công cộng
- Phơi nhiễm thụ động với thuốc lá ở phụ nữ và trẻ em tại gia đình
- Nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống sốt xuất huyết tại xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, 2006 - 2008
- Đánh giá mục tiêu kiểm soát thiếu hụt Iốt sau 3 năm kết thúc dự án phòng chống các rối loạn do thiếu iốt tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai năm 2008
- Suy dinh dưỡng thấp còi và thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại 2 xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá chương trình đào tạo nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh Bạc Liêu năm 2007
- Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










