English (United Kingdom)
Bảng quảng cáo

Polls

Nội dung của website VPHA
 

Thông báo

Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.

Sự kiện sắp tới

<<  Tháng 5 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Ấn phẩm

an pham
Số lần xem bài viết : 210131
Mối liên quan của việc xem phim ảnh và trang web khiêu dâm tới quan niệm và hành vi tình dục của thanh thiếu niên chưa kết hôn ở quận Gia Lâm, Hà Nội  Email
Viết bởi Trần Thị Mỹ Hạnh (*), Lê Cự Linh (*)   
Thứ hai, 26 Tháng 10 2009 17:22

Trong bối cảnh văn hoá phẩm khiêu dâm lưu hành phức tạp cùng sự gia tăng hành vi tình dục không an toàn ở thanh thiếu niên Việt Nam, một câu hỏi đặt ra là liệu những ấn phẩm đó liên quan như thế nào tới quan niệm và hành vi tình dục của giới trẻ? Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính này được tiến hành trên 326 thanh thiếu niên (TTN) chưa kết hôn tuổi từ 15 - 24 tại Gia Lâm, Hà Nội, cho biết: Có khoảng 55% nam và 5,5% nữ TTN từng xem băng đĩa và trang web khiêu dâm, 21,3% thường xuyên xem phim trực tuyến trên internet và in sao vào ổ ghi cá nhân. Hơn 49% nam TTN từng xem thừa nhận bị kích thích và 23% muốn bắt chước hành vi trên phim. Quan niệm về tình dục trước hôn nhân khác biệt theo giới, nam cởi mở trong khi nữ coi trọng trinh tiết.Bạn thân có vai trò trong việc truyền bá ấn phẩm khiêu dâm và nhóm có bạn quan hệ tình dục trước hôn nhân thì tỷ lệ có hành vi này cao gấp 5,5 lần nhóm còn lại. Có 31,4% nam và 3,9% nữ đã QHTD và trung bình một nam từng QHTD với 1,76 bạn tình và 9% nam từng QHTD đã từng quan hệ với gái mại dâm. Nghiên cứu cũng đã cho biết nam TTN chưa kết hôn xem phim ảnh khiêu dâm có quan niệm về tình dục trước hôn nhân cởi mở hơn (ORhiệu chỉnh = 2,15) và đồng thời dự báo hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân (ORhiệu chỉnh = 10,5). Bên cạnh đó, số bạn tình trung bình ở nhóm này cũng nhiều hơn nhóm không xem. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần phải áp dụng những biện pháp hiệu quả để kiểm soát sự lưu hành của phim ảnh khiêu dâm trên internet và băng đĩa trái phép nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu đến thế hệ trẻ.

 

Từ khoá Tiếng Việt: vị thành niên, hành vi tình dục, trang web và văn hoá phẩm khiêu dâm.

 

The association between exposure to porn movies and erotic websites and sexual perception and behaviour of adolescents in Gia Lam district, Ha Noi


Nowadays, the setting of depraved culture becomes a big social problem and people suspect that there is an association between exposure to sexual-content webs, videos and behavior of sexual practice of youth in Viet Nam. This study involved 326 unmarried youth aged from 15 to 24 in Gia Lam district which aims to answer whether the youth with more access to sex-related and porn videos, websites are more likely to have liberal perception and practice related to sexual behaviors. A combination of qualitative study and quantitative survey was conducted. The results show that: 55% of males and 5.5% of females have seen sex web and pornographic videos, 21.3% usually see sex videos online and download them to their private computers. More than 49% of males admitted that they feel sexually aroused, and 23% of the youth males want to imitate actions on those videos that they watched. Male's attitude towards premarital sex is very open - minded while female's attitude is still rather conservative and they still highly respect the idea of virginity. Close friend is an important contributing factor as they spread out quickly those sexual content media and information. Percentage having sex before marriage of youth males - who have close friends having sex before marriage is 5.5 times higher than that in another group. About 31.4% of males and 3.9% of females have sex before marriage and males have in average 1.76 sexual partners. It is also found that 9% of males - who have ever had sex get involved with sex workers. An association was found between watching porn movies and erotic websites and sexual perception (OR = 2.15) and behavior (OR = 10.5). Males who are exposed to porn videos also reported a higher number of sexual partners compared to those who did not.The result of this study shows that there is a need to apply effective methods for controlling on the circulation of online pornographic movies and illegal videos in order to reduce the harmfulness of such stuff to adolescents.

 

Keywords: adolescents, sexual perceptions, sexual practice, sexual-content website, porn video and media.

 

Tác giả

 

(*) Ths. Trần Thị Mỹ Hạnh, giảng viên Khoa Y học cơ sở - Trường Đại học Y tế Công cộng, 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội. E.mail: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 

(**) TS. Lê Cự Linh – Trưởng Bộ môn Dân số, Trường Đại học Y tế Công cộng – 138 Giảng Võ – Hà Nội.

E.mail: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 

 

 

 

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh thanh thiếu niên (TTN) ngày càng có điều kiện dễ dàng hơn để tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng phong phú, bên cạnh những thông tin tác động tích cực đến quá trình hình thành nhân cách nói chung và quan niệm, hành vi tình dục nói riêng phải kể đến những thể loại thường bị xã hội phê phán đó chính là phim ảnh, trang web khiêu dâm mà trên thực tế rất dễ lôi cuốn tuổi mới lớn. Vậy những văn hóa phẩm này có tác động như thế nào đến quan niệm và hành vi tình dục của TTN? Đây là một câu hỏi thực tiễn cần sớm được trả lời. Điều tra quốc gia VTN và TN năm 2005 (SAVY) đã cho biết, quan niệm của TTN về quan hệ tình dục

(QHTD) trước hôn nhân khá cởi mở: 31,7% TTN đồng tình với điều này khi cả 2 cùng tự nguyện. Tuy vậy, có sự khác biệt rất rõ giữa nam và nữ. Tuổi bắt đầu QHTD trung bình là 19 tuổi, đáng chú ý là 1% nam nhóm 14-17 tuổi đã QHTD, nhóm 18-21 tuổi là 10% và ở nhóm 22-25 tuổi là 33% [1], [2], tương tự một vài nghiên cứu tại khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu của Liên hiệp Sức khoẻ phụ nữ Quốc tế năm 2007 cho biết 30% nam và hơn 20% nữ TTN Philippines đã QHTD, bên cạnh đó tại Thái Lan 2% nữ và 15% nam sinh viên cho biết đã QHTD khi chưa đầy 15 tuổi và TTN tại khu vực này đang thực sự phơi nhiễm với nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có HIV [8].

Nghiên cứu sức khoẻ sinh sản TTN 15-24 tuổi tại thị trấn Gia Lâm năm 2004 của Lê Cự Linh cho thấy khoảng 18,3% nam và 7,4% nữ TTN đã QHTD trước hôn nhân, đồng thời nam TTN còn phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ như QHTD với gái mại dâm (7,8% nam TTN) và có nhiều bạn tình [4]. Một số nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố bảo vệ TTN khỏi việc QHTD trước hôn nhân như sống cùng gia đình, trình độ học vấn cao... Tuy nhiên, có nghiên cứu còn chỉ ra sự không tương xứng giữa kiến thức và hành vi tình dục ở TTN và cho rằng hành vi tình dục của TTN chịu sự tác động của các yếu tố xã hội cần được nghiên cứu sâu hơn.

Tham khảo một vài nghiên cứu từ ảnh hưởng của internet đến thanh thiếu niên, Williams E Nwagwu cho biết nữ TTN Nigeria và TTN nhiều nước khác thường tìm các thông tin về sức khoẻ sinh sản và tình dục trên internet, đó là nguồn tin được lực chọn số 1 sau đó mới đến các thông tin từ cha mẹ và bạn bè. Cụ thể là 74% nhóm nữ sinh và 68% nữ thanh niên sử dụng internet để tìm kiếm thông tin cần thiết về sức khoẻ sinh sản và tình dục. Cha mẹ được khoảng 66% các thiếu nữ lựa chọn và giáo viên chỉ đứng thứ 3 với 56% các thiếu nữ lựa chọn [6]. Anh D. Ngo và cộng sự năm 2008 khi thực hiện một nghiên cứu việc sử dụng internet và tác động của nó đến TTN cho biết tình trạng TTN 15-19 tuổi ở Hà Nội sử dụng internet để tìm kiếm và xem phim ảnh về tình dục rất phổ biến [6] song chưa chỉ ra yếu tố nào là nguy cơ dẫn đến hành vi tình dục không an toàn hoặc các nguy cơ khác đối với sức khỏe.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mối liên quan của việc xem phim ảnh, trang web khiêu dâm tới quan niệm và hành vi tình dục của TTN nhằm cung cấp thêm bằng chứng cho lãnh đạo địa phương và các nhà hoạch định chính sách cơ sở áp dụng biện pháp nhằm giảm thiểu những yếu tố bất lợi đến sự phát triển của thế hệ trẻ.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp định tính và định lượng, thực hiện trên 326 TTN từ 15-24 tuổi chưa kết hôn đang sống tại Gia Lâm Hà Nội vào thời điểm nghiên cứu, tháng 6-2008.

Nghiên cứu định lượng là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, với công cụ thu thập thông tin phát vấn. Phiếu trả lời được thiết kế riêng cho nam, nữ được phát trực tiếp để TTN điền tại chỗ. Phần định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm ở TTN được thực hiện trên các nhóm tuổi đại diện và thực hiện riêng với nam và nữ, tổng số 12 cuộc phỏng vấn sâu và 8 cuộc thảo luận nhóm. Để bổ sung thông tin từ các nhóm đối tượng liên quan, nghiên cứu cũng đã thực hiện 12 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện phụ huynh, lãnh đạo ngành văn hoá địa phương, chính quyền, đoàn thanh niên và người bán băng đĩa, người kinh doanh dịch vụ internet...

Dựa trên công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ và tỷ lệ từ chối tham gia hoặc bỏ cuộc được dự đoán là 20%, chúng tôi tính được cỡ mẫu cần thiết là 230 nam và 130 nữ. Nghiên cứu dựa trên cơ sở phân loại kinh tế của địa phương để chọn ngẫu nhiên 3 xã trong 3 nhóm xã có kinh tế khá, trung bình và nghèo. Sau đó tiến hành chọn mẫu bằng phương pháp ngẫu nhiên phân tầng và ngẫu nhiên đơn theo tỷ lệ TTN của các xã được chọn.

Quy trình thu thập số liệu TTN theo danh sách mẫu có cơ hội tham gia như nhau. Cuộc phát vấn được tổ chức sau một cuộc giao lưu văn nghệ và trò chơi ngắn, thời gian dành cho điền phiếu trong vòng 1 giờ và TTN được bố trí ngồi cách xa nhau để tránh trao đổi, khu vực dành cho nam và nữ được bố trí riêng và có điều tra viên cùng giới, cùng độ tuổi (là sinh viên năm thứ 3 cử nhân YTCC) có thể giải thích những thắc mắc khi TTN yêu cầu. Quá trình điền phiếu hoàn toàn không có mặt của cán bộ đoàn, người thân, phụ huynh, cán bộ y tế hay lãnh đạo địa phương.

Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện tại trụ sở UBND vào ngày nghỉ, được sự đồng ý của TTN và ghi âm lại bằng máy ghi âm chuyên dụng. Những cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tổ chức cùng thời điểm tại các phòng khác nhau.

 

3. Kết quả nghiên cứu

 

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu thực hiện trên 326 TTN, gồm 199 nam và 127 nữ. Tỷ lệ bỏ cuộc ở nam là 16% và nữ là 3%. Khoảng 31% TTN có việc làm nhưng đặc biệt chỉ có 3,4% TTN làm ruộng, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ các vùng nông thôn Việt Nam. Trình độ học vấn khá tốt với tỷ lệ 89% học từ cấp 3 trở lên. Bên cạnh đó, 61,6% TTN sở hữu máy tính riêng hoặc điện thoại có khả năng tải hình ảnh và xem phim.

 

3.2 Sự lưu hành và thực trạng tiếp xúc của TTN Gia Lâm với phim ảnh, web khiêu dâm

 

 

 

Có tới 51,8% nam và 5,5% nữ đã từng xem các trang web khiêu dâm. Nam TTN xem nhiều hơn nữ TTN một cách có ý nghĩa thống kê với p<0,001.

Có 21,2% TTN xem phim ảnh khiêu dâm lần đầu trước 18 tuổi, thậm chí 16,1% bắt đầu xem khi chưa đầy 15 tuổi và 7% TTN từng xem khi chưa đến tuổi 13. Đây cũng là giai đoạn dậy thì nên nhiều ý kiến cho rằng, ở giai đoạn này TTN thường rất tò mò và mong muốn khám phá cơ thể, do đó nếu không được cung cấp kiến thức cần thiết, TTN dễ tìm kiếm các ấn phẩm ngoài luồng để giải đáp những thắc mắc của mình.

Trong khi đó, 21,6% trong số 326 TTN tham gia nghiên cứu thừa nhận thường xuyên vào các trang web xem phim khiêu dâm trực tuyến, 8,3% TTN đã từng tải những phim này từ mạng internet xuống máy tính, điện thoại di động hay USB để xem và cho bạn bè.

Tương tự các trang web đen, nam xem băng đĩa khiêu dâm nhiều hơn nữ một cách có ý nghĩa thống kê (÷2 = 87 và p <0,001); nhóm TTN từ 20-24 tuổi cũng có xu hướng xem nhiều hơn nhóm từ 15-19 tuổi (÷2 = 20,67 và p <0,001). Có 27,8% nam TTN tham gia nghiên cứu thừa nhận từng xem cả băng đĩa và trang web khiêu dâm.

Theo phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm TTN cũng cho biết có thể xem phim khiêu dâm tại quán internet, ngay cả ở những xã xa trung tâm nhất, việc tiếp cận với các trang web loại này trở nên quá dễ dàng ngay cả khi TTN không muốn:

Một nam TTN nói: "Khi nào anh em vào quán nét thì xem...người trông quán thấy mình xem thì chỉ cười, có người lờ đi coi như họ không nhìn thấy..." và "khi đi chát thì thường có những trang web đen tự nhiên hiện lên, lúc đấy giật mình xoá hoặc tắt nó đi" - nữ thanh niên tâm sự.

Về băng đĩa khiêu dâm, TTN thừa nhận có thể mua băng đĩa lậu từ những người bán dạo tại các thị trấn, bến xe bus hoặc nhiều chợ với giá rất rẻ mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Bên cạnh đó tệ nạn mại dâm vẫn hiện hữu làm tổn hại đến môi trường phát triển của TTN, trá hình dưới nhiều hình thức cafe đèn mờ hay karaoke và nhà nghỉ.

Kết quả phân tích sâu cho biết TTN chủ yếu có băng đĩa khiêu dâm từ bạn bè hoặc tự mua. Gần 30% nam TTN thường xuyên chủ động tìm kiếm các trang web đen. Họ giải thích lần đầu có thể do vô tình, sau đó vì thấy thích thú nên chủ động tìm để xem và 57,7% TTN nói sẽ không phản đối khi bạn bè rủ xem phim ảnh tươi mát. Không chỉ thừa nhận hành vi xem ấn phẩm khiêu dâm của bản thân, 67,6% TTN cho rằng các bạn nam và 26% TTN đồng ý rằng các bạn nữ cùng lứa tuổi họ cũng xem các phim khiêu dâm, phải chăng điều này gợi ý trên thực tế tỷ lệ xem ấn phẩm khiêu dâm có thể cao hơn.

Đặc biệt, phân tích theo giới, chúng tôi thấy nam TTN dành khá nhiều thời gian cho phim ảnh khiêu dâm, 76,7% TTN từng xem hàng tháng, 7% xem hàng tuần và đặc biệt 9% xem hàng ngày. Điều này phần nào nói lên rằng xem phim ảnh khiêu dâm có thể gây hiện tượng "quen" hay "nghiện", đó là chưa kể đến những tác động có hại từ hành vi này. Bên cạnh đó, tìm hiểu cảm giác chủ quan sau khi xem các ấn phẩm khiêu dâm cho biết 49,5% nam TTN thừa nhận bị kích thích. Thậm chí 21,7% TTN nói mong muốn bắt chước những hành vi trên.

 

3.3 Quan niệm tình dục của TTN:

Phân tích định lượng thấy rằng 25,2% nữ đồng tình với việc nam TTN có thể QHTD trước hôn nhân trong khi có tới 67,4% nam TTN ủng hộ quan điểm này (n= 317). Trong khi đó cả 2 giới đều khắt khe hơn với việc nữ QHTD THN vì chỉ có 7,1% nữ và 32,8% nam TTN đồng tình với quan điểm đó.

Kết quả định tính giúp mô tả thêm những khía cạnh cụ thể trong quan niệm tình dục: Thanh thiếu niên ngày nay thường có người yêu rất sớm và thoáng hơn trong tình yêu, tình dục. Tình trạng "sống thử" được TTN cho là phổ biến ở các đối tượng sinh viên thuê nhà tại đây nhưng ít xảy ra ở TTN địa phương.

Quan niệm cởi mở về tình dục trước hôn nhân được thể hiện rõ rệt ở nam thanh niên. Còn đối với nữ, quan niệm này thể hiện vẫn giữ được những nét truyền thống.

Thanh thiếu niên tự giải thích sự cởi mở hơn trong quan niệm là do những thay đổi lớn của xã hội, sự du nhập văn hoá nước ngoài ồ ạt trên nhiều kênh truyền thông và sự a dua theo bạn bè trong khi thiếu đi phần nào sự quan tâm của gia đình trong nhịp sống bận rộn.

Để giảm thiểu những tác hại có thể đến từ những loại văn hoá phẩm không lành mạnh, TTN mong muốn được cung cấp thêm kiến thức về an toàn tình dục. Họ ưa thích hình thức tuyên truyền thông qua sinh hoạt tập thể giữa chính thanh niên với thanh niên và không đánh giá cao những hình thức hiện tại bởi kém hiệu quả và không cuốn hút.

Quan niệm về BCS chưa tốt so với kết quả nghiên cứu ở TTN thị trấn năm 2004 của tác giả Lê Cự Linh cũng tại Gia Lâm thể hiện bởi chỉ 7,5 TTN tự tin đi mua BCS trong khi ở nghiên cứu của Lê Cự Linh tỷ lệ này là 43,3% ở nam và 37% ở nữ cũng với phương pháp phát vấn và câu hỏi tương tự.

Nguyên nhân của thái độ không tích cực đối với BCS được giải thích thêm bởi 6 trên 8 nhóm TTN nam nữ được hỏi cho rằng ngoài cảm giác khó chịu mà nó gây ra, họ còn hoài nghi về mức độ an toàn của BCS, nhất là nữ TTN. Một số nam TTN cho biết họ bị cản trở việc dùng BCS trong những lần đầu tiên chính bởi người bạn gái mình.

Quan niệm thế nào là QHTD sớm và vấn đề nạo hút thai của TTN:

TTN thừa nhận tình trạng QHTD sớm từ 16,17 tuổi rất phổ biến. Theo họ nên QHTD ngoài 20 tuổi. Họ ý thức được nạo phá thai không tốt cho sức khoẻ, đặc biệt là đe doạ tương lai người phụ nữ. Về khía cạnh đạo đức TTN tỏ ra không đồng tình nhưng cho rằng đó là cách duy nhất mà TTN buộc phải chấp nhận nếu chưa thể kết hôn.

Một nam thanh niên nói "Một người phụ nữ có thai ngoài ý muốn thì đương nhiên là rất thiệt thòi rồi, nếu lấy được người yêu đấy thì sau này cũng bị gia đình chồng coi rẻ, còn nếu lấy người khác thì …khó nói lắm" Tiêu biểu cho những ý kiến tương tự, nữ TTN cho biết "Nếu có thai họ cho mình là người ngoài hành tinh thôi, cưới được thì tốt, không thì phải bỏ…"

 

3.4. Hành vi tình dục của TTN

Tương tự quan niệm tình dục, hành vi tình dục được nhiều nghiên cứu khẳng định có sự khác biệt rất lớn về giới, do vậy chúng tôi tiến hành phân tích và so sánh theo nam và nữ:

Thực trạng quan hệ tình dục ở TTN chưa kết hôn. Có 31,4% nam và chỉ có 3,9% nữ TTN chưa kết hôn từng QHTD. Tuổi QHTD lần đầu trung bình là 18,98 tuổi. Chỉ số này phù hợp với nghiên cứu SAVY năm 2005 cho biết tuổi trung bình QHTD lần đầu ở TTN Việt Nam là 19 tuổi. Tuy vậy, một điều đáng lưu tâm là có tới 41,5% nam TTN và 7,1% nữ TTN nói rằng bạn thân của họ đã từng QHTD. Điều này gợi ý phải chăng tỷ lệ đã từng QHTD trên thực tế còn cao hơn con số tìm được.

Có 9,5% nam từng QHTD đã từng quan hệ với gái mại dâm trong số 198 nam TTN trả lời câu hỏi. Trung bình một nam đã QHTD có 1,76 bạn tình. Đặc biệt 16,1% nam TTN đã QHTD với 3 bạn tình trở lên. Tuy nhiên hơn 23% nam TTN từng QHTD cho biết họ chưa từng sử dụng BCS. Mặt khác, chỉ khoảng 6% nam TTN nói họ tự tin sử dụng BCS thành thạo còn lại 43,7% nam, 83,5% nữ cho biết họ không biết cách sử dụng biện pháp này.

- Tình trạng có thai ngoài ý muốn và mắc BLTQĐTD:

Có 21% nam trong số đã QHTD từng làm cho bạn tình có thai ngoài ý muốn. Tất cả thai nghén ngoài ý muốn đều đình chỉ bằng phương pháp nạo hút thai.

Do cỡ mẫu nhỏ và chỉ bằng phương pháp phát vấn, nghiên cứu chưa tìm được tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục một cách đáng tin cậy.

 

3.5 Liên quan giữa xem trang web, băng đĩa khiêu dâm đến quan niệm và hành vi tình dục Liên quan tới quan niệm về tình dục

Quan niệm cởi mở về tình dục trước hôn nhân được đánh giá bởi tiêu chí: TTN đồng tình với việc con trai hoặc con gái có thể QHTD trước hôn nhân.

Phân tích đơn biến các mối liên quan cho biết: Nhóm tuổi lớn hơn quan niệm cởi mở hơn hơn nhóm nhỏ tuổi một cách có ý nghĩa với 2= 9 và p = 0,002. Giới cũng là một điểm khác biệt khi 43,4% nam cởi mở với QHTD THN trong khi chỉ có 11% nữ có cùng quan điểm trên. Đặc biệt, TTN có bạn thân đã từng QHTD cởi mở hơn hẳn nhóm TTN có bạn chưa từng QHTD. Tuy nhiên trên thực tế, tuổi có thể là yếu tố nhiễu vì liên quan đến cơ hội xem ấn phẩm nhiều hơn và càng gần tuổi kết hôn TTN có thể dễ chấp nhận việc QHTD hơn. Mặt khác, liệu việc có bạn thân đã từng QHTD có làm cho TTN có quan niệm cởi mở hơn? Tiến hành phân tích mô hình hồi quy logistic nhằm xác định mối quan hệ thực chất sau khi khống chế các yếu tố nhiễu và kết luận theo OR hiệu chỉnh, kết quả như sau:

Nam và nữ có quan niệm thực sự khác biệt, nữ vẫn ít cởi mở hơn nam trong vấn đề QHTD trước hôn nhân. Tuổi và trình độ tỏ ra không có vai trò quan trọng tác động đến quan niệm của TTN. Trong khi đó, chúng ta vẫn thấy rằng nhóm TTN đã từng xem ấn phẩm khiêu dâm có quan niệm cởi mở hơn so với nhóm chưa từng xem. Và nổi bật hơn cả là tỷ lệ ở nhóm TTN có bạn thân từng QHTD có quan niệm cởi mở cao hơn gấp hơn 5 lần so với nhóm có

 

 

- Liên quan đến hành vi QHTD trước hôn nhân

Theo phân tích, tỷ lệ QHTD là 31,4% ở nam và 3,9% ở nữ. Như vậy tỷ lệ tìm được ở nữ khá thấp (số tuyệt đối là 5) ít giá trị trong phân tích mối liên quan. Phân tích đơn biến cho biết: Tỷ lệ QHTD ở nhóm TTN xem ấn phẩm khiêu dâm cao hơn so với nhóm không xem một cách có ý nghĩa thống kê (p

<0,0001). Tuổi cũng thể hiện mối liên quan vì trên thực tế càng nhiều tuổi TTN càng có cơ hội QHTD nhiều hơn. Tuy nhiên, hành vi QHTD trước hôn nhân còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như sống cùng cha mẹ, đã có người yêu hay việc có bạn thân QHTD trước hôn nhân. Để loại trừ nhiễu và yếu tố làm thay đổi tác động chúng tôi phân tích theo mô hình hồi quy logistic như sau:

Tuổi có thể làm tăng khả năng QHTD trước hôn nhân ở nam TTN nhưng chưa thực sự có ý nghĩa thống kê. Nam ủng hộ việc nam có thể QHTD trước hôn nhân có tỷ lệ từng QHTD cao hơn nhóm không ủng hộ 5 lần, với p = 0,014. Đặc biệt việc xem ấn phẩm khiêu dâm vẫn khẳng định mối liên quan chặt chẽ tới hành vi QHTD THN ở nam TTN với OR =

10,6 và p < 0,001. Nhóm nam TTN có bạn thân QHTD THN cũng có tỷ lệ QHTD cao hơn nhóm còn lại 5,5 lần. Điều này khẳng định thêm một lần nữa ảnh hưởng của bạn cùng lứa đến TTN trong vấn đề tình dục.

- Liên quan đến hành vi có nhiều bạn tình

Sử dụng t -test so sánh số bạn tình trung bình của nam từng xem và chưa từng xem ấn phẩm khiêu dâm cho thấy số bạn tình 2 nhóm có sự khác biệt rõ rệt (t = 5,067; p < 0,001).

 

4. Bàn luận

Bằng cách sử dụng phát vấn điền phiếu tại chỗ được lồng ghép trong một cuộc giao lưu văn nghệ, trò chơi để tạo không khí thoải mái cho TTN địa phương tham gia nghiên cứu đã bước đầu làm giảm sự e ngại của TTN trong nghiên cứu sức khoẻ tình dục do đó tỷ lệ bỏ cuộc và câu trả lời bị bỏ trống rất ít.

Những tỷ lệ về số TTN có việc làm, cơ cấu nghề nghiệp và mức thu nhập bình quân cũng như những điều kiện tiếp cận với một số phương tiện thông tin hiện đại cho thấy mức sống của TTN Gia Lâm khá cao, tương tự như khu vực thành thị trên toàn quốc.

Về quan niệm tình dục, nam TTN Gia Lâm có quan điểm cởi mở hơn với QHTD THN trong khi nữ vẫn khắt khe hơn. Phù hợp với tỷ lệ nam QHTD THN khá cao (31,4%) còn tỷ lệ ở nữ lại thấp (3,9%). So sánh tỷ lệ này với SAVY thì thấy rằng nam TTN Gia Lâm có tỷ lệ QHTD THN cao hơn so với TTN toàn quốc trong khi nữ lại thấp hơn. Điều này gợi ý rằng phải chăng trên thực tế, tỷ lệ nam TTN quan hệ với gái mại dâm còn cao hơn tỷ lệ 9,55% tìm được hay cách tiếp cận của nghiên cứu vẫn chưa đủ sức thuyết phục để thu được thông tin nhạy cảm này từ các nữ TTN.

Thanh thiếu niên Gia Lâm có quan niệm chưa tốt về BCS thể hiện ở tỷ lệ tự tin đi mua bao cao su rất thấp cũng như những nghi ngờ về tác dụng và tính an toàn của BCS. Chính vì thế, có thể hiểu được tại sao lại có tới 23,3% nam TTN đã QHTD mà chưa từng sử dụng BCS. Do cỡ mẫu nhỏ nên tỷ lệ nạo phá thai chỉ để đưa ra những nhận định ban đầu. Tuy nhiên, với trên 21% nam TTN từng QHTD đã từng làm cho bạn tình có thai và tất cả các trường hợp có thai ngoài ý muốn đều phải đình chỉ thai nghén cho thấy rằng, thực trạng áp dụng các biện pháp tránh thai của nam TTN Gia Lâm là rất đáng lo ngại, họ không những gây nên những nguy cơ về sức khoẻ cho bạn tình từ việc nạo phá thai mà còn không áp dụng biện pháp cần thiết để tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho mình và bạn tình.

Mặt khác các trường hợp có thai ngoài ý muốn đều bị đình chỉ bằng phương pháp nạo hút thai cho thấy ở nữ thanh thiếu niên Việt Nam, đây là giải pháp chủ yếu khi họ chưa thể kết hôn, rất khác biệt so với thống kê của Viện Guttmarcher, 57% nữ thanh thiếu niên Mỹ khi có thai ngoài ý muốn sẽ sinh con và chỉ có khoảng 29% phải nạo hút thai [7].

Việc lưu hành phim ảnh, trang web khiêu dâm khá phổ biến, thậm chí còn được bán dạo ngay tại nơi công cộng. Mặt khác TTN, đặc biệt là nam TTN đã từng chủ động tìm kiếm trang web khiêu dâm tải phim ảnh khiêu dâm xuống máy tính, điện thoại di động hay USB để xem và cho bạn bè. Như vậy có thể thấy rằng điều kiện để TTN tiếp cận và xem phim ảnh khiêu dâm là quá dễ dàng. Bên cạnh đó, việc gần một nửa nam TTN từng xem thừa nhận bị kích thích sau khi xem thậm chí 21% từng mong muốn bắt chước những hành vi trên phim ảnh loại này cho thấy phim ảnh và trang web khiêu dâm gây ảnh hưởng tới thời gian, tâm trí và đặc biệt là hành vi tình dục của TTN là có cơ sở. Thêm một lần nữa, nghiên cứu khẳng định xem ấn phẩm khiêu dâm có mối liên quan tới quan niệm cởi mở hơn về QHTD trước hôn nhân với p<0,001 và là yếu tố dự báo hành vi QHTD trước hôn nhân, đặc biệt là đối với nam TTN (OR= 10,6; p<0,001). Nhóm TTN xem ấn phẩm có số bạn tình cao hơn nhóm TTN chưa xem một cách có ý nghĩa sau khi đã được xử lý thống kê để loại bỏ các yếu tố nhiễu càng cho thấy không thể bỏ qua phim ảnh khiêu dâm trước những tác hại của nó đến sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ.

Bằng việc chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa ảnh hưởng của bạn thân tới quan niệm cởi mở về tình dục cũng như giúp dự báo QHTD trước hôn nhân ở TTN; đặc biệt là nam TTN. (OR = 5,5, p<0,001), nghiên cứu đã cho thấy vai trò của bạn cùng lứa trong quá trình tác động tới những khía cạnh nhạy cảm trong đời sống của TTN, điều này gợi ý rằng thông qua cách tiếp cận đồng đẳng có thể tiến hành được giáo dục sức khoẻ tình dục cho TTN một cách hiệu quả hơn.

Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị sau:

- Chính quyền địa phương cần tạo thêm điều kiện vui chơi giải trí lành mạnh cho TTN. Khuyến khích hoạt động tập thể trong đó lồng ghép tuyên truyền SKSS&TD và định hướng cho TTN về văn hóa phẩm.

 

- Khuyến khích cha mẹ giáo dục giới tính cho trẻ từ giai đoạn trước dậy thì. Cần có biện pháp nâng cao kỹ năng giáo dục giới tính của các bậc cha mẹ cho con cái họ.

- Cần thực thi triệt để Điều 253 Bộ luật hình sự về xử lý người có hành vi sản xuất, in sao, phát tán văn hoá phẩm đồi truỵ. Tuyên truyền kết quả xử phạt trên phương tiện thông tin đại chúng nhằm răn đe.

- Cần phối hợp liên ngành, kiểm tra giám sát chặt chẽ địa điểm công cộng: cổng trường, trạm xe bus, chợ... xoá bỏ nạn mua bán băng đĩa dạo có nội dung đồi truỵ. Vận động nhân dân giám sát các cơ sở kinh doanh internet, băng đĩa phát hiện vi phạm và xử lý theo đúng luật.

- Tuyên truyền về tác dụng của BCS cho TTN đồng thời khuyến khích các dịch vụ cung cấp thân thiện hơn.

 

 

 

Tài liệu tham khảo

 

Tiếng Việt

 

1. Bộ Y tế, Dự án VIE/01/P10 (2006), Báo cáo đánh giá cuối kỳ Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại 11 tỉnh tham gia Chu kỳ Quốc Gia 6 UNFPA Việt Nam.

 

2. Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Unicef, WHO (2005), Báo cáo chuyên đề 1 - Một số vấn đề sức khoẻ tình dục và sinh sản của vị thành niên và thanh niên Việt Nam, Điều tra Quốc Gia.

 

3. Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Unicef, WHO (2005), Điều tra Quốc Gia về vị thành niên và Thanh niên Việt Nam, Điều tra Quốc Gia.

4. Lê Cự Linh, Đỗ Mai Hoa và cs (2004), Thử nghiệm phương pháp phỏng vấn với sự trợ giúp của máy tính trong nghiên cứu sức khoẻ sinh sản vị thành niên, đề tài nghiên cứu khoa học.

5. Viện Chăm sóc sức khoẻ và BVBMTSS Hà Nội, 2007, Báo cáo công tác khám chữa bệnh ngoại trú 2007.

 

 

 

Tiếng Anh

 

6. Anh D. Ngo, Michael W. Ross, and Eric A.Ratliff (2008): Internet inffluences on sexual practices among young people in Hanoi, Vietnam, Culture, Health and Sexuality, Researching Sexuality and Health in Vietnam.

 

7. Guttmacher Instutites (2006), Facts on American Teen's

Sexual and Reproductive Health, the brief of report.

 

8. International women's health coalition (2007), Young adolescents's Sexual and Reproductive Health and Rights: South and Southeast Asia, Report.

 

9. Williams E Nwagwu (2007), The internet as a source of Reproductive health infomation among in adolescent girls in a uban city in Nigeria, BMC Public Health.

 

Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:59
 
Các bài viết khác:
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat