English (United Kingdom)
Bảng quảng cáo

Polls

Nội dung của website VPHA
 

Thông báo

Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.

Sự kiện sắp tới

<<  Tháng 5 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Ấn phẩm

an pham
Số lần xem bài viết : 210133
Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội  Email
Viết bởi Nguyễn Thanh Hương (*), Trương Quang Tiến (*), Hoàng Khánh Chi(*), Nguyễn Hoàng Phương (*), Trần Bích Phượng (**), Micheal Dunne (***)   
Thứ sáu, 23 Tháng 10 2009 19:10
Chỉ mục bài viết
Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội
Page 2
Tất cả các trang

Ngày nay vấn đề sức khỏe tâm thần là khá phổ biến trong giới trẻ và có xu hướng tăng lên đặc biệt ở các nước đang phát triển. Điển hình về vấn đề này như trầm cảm và lo âu trong thời kỳ vị thành niên có thể để lại hậu quả tức thì hoặc lâu dài tới sức khỏe thể chất cũng như tâm thần khi trưởng thành. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này lại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Mục đích của bài báo này là xác định một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với trầm cảm và lo âu ở học sinh hai trường trung học cơ sở của Hà Nội. Đây là nghiên cứu cắt ngang sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh với 972 học sinh từ lớp 6 đến lớp 8. Các mô hình phân tích đa biến được sử dụng để kiểm soát một số yếu tố nhiễu. Kết quả cho thấy học sinh nội thành có sức khỏe tâm thần kém hơn so với học sinh ngoại thành (p<0.05). Trầm cảm và lo âu ở cả học sinh nam và nữ có mối liên quan với nhiều yếu tố khác nhau. Gắn kết tốt với nhà trường; được cha, mẹ quan tâm phù hợp là yếu tố bảo vệ. Bị bắt nạt/trêu ghẹo; sự kiểm soát và bảo vệ quá mức của cả cha lẫn mẹ là yếu tố nguy cơ của trầm cảm và lo âu. Kết quả nghiên cứu nhất quán với công bố của một số nghiên cứu trước đây và cho thấy tính cấp thiết của việc triển khai các chương trình can thiệp tại trường học để cải thiện sự gắn kết với nhà trường, giảm tình trạng bắt nạt/trêu ghẹo và hỗ trợ phụ huynh quan tâm, chăm sóc các em một cách phù hợp nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần của thế hệ trẻ.

 

Từ khóa: Trầm cảm, lo âu, vị thành niên, yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ.

 

 

Some risk and protective factors for depression and anxiety among students of two secondary schools in Hanoi

Nowadays, mental health problems are quite prevalent and on an increasing trend among adolescents and youth. Typical mental health problems include depression and anxiety among adolescents which can have serious short-term and long-term impacts on adult physical and mental health. However, this problem is still not prioritized for research in Viet Nam. This paper aims to identify some of protective and risk factors of depression and anxiety among school children at two secondary schools in Ha Noi. This is a cross-sectional study using self-administered questionnaire without respondent's name for collecting data from 972 school children from grade 6 to grade 8. Multivariable linear regression models and General linear models were employed to control confounding variables. The results show that adolescents in suburban school have better mental health than their counterparts in inner city school (p<0.05). There are various factors associated with depression and anxiety. School connectedness, appropriate mother and farther care are protective factors. Bullying, overprotection of both mother and father are risk factors of depression and anxiety. The study results are consistent with findings from previous studies and show the urgent need of developing and implementing intervention programs at schools to improve school connectedness, reduce school bullying, and support parents to take care their children appropriately, and thus to contribute to promoting mental wellbeing of young generation.

 

Key words: Depression, anxiety, adolescent, risk factors, protective factors.

 


 

1. Đặt vấn đề

 

Các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề sức khỏe tâm thần có xu hướng gia tăng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trên 25% dân số thế giới bị rối loạn tâm thần và hành vi tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời [21]. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Viết Thiêm, kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ người dân mắc rối loạn tâm thần loại này hay loại khác chiếm khoảng 15-20% dân số [3]. Năm 2002, nghiên cứu dịch tễ học bệnh tâm thần của Trần Văn Cường cho kết quả 2,8% dân số có biểu hiện trầm cảm, 2,6% dân số có biểu hiện lo âu, và rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên chiếm 0,9% dân số. Phân tích sâu hơn của nghiên cứu này cũng cho thấy tỉ lệ trầm cảm ở nữ cao gấp 3 lần so với nam và lo âu ở nữ cũng gấp khoảng 2,5 lần so với nam [1].

Năm 1996, nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật của thế giới của Đại học Harvard, WHO và Ngân hàng thế giới cho biết gánh nặng toàn cầu của các rối loạn tâm thần chiếm 10,5% gánh nặng bệnh tật, tuy nhiên vẫn được cho là thấp hơn so với thực tế. Cũng trong nghiên cứu này, ước tính gánh nặng bệnh tật do bệnh tâm thần và thần kinh sẽ tăng lên với tốc độ cao hơn so với bệnh tim mạch và chiếm khoảng 15% vào năm 2020 [4].

Sức khỏe tâm thần của vị thành niên là một vấn đề đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các cán bộ quản lý, cán bộ y tế và cộng đồng. Sức khỏe tâm thần được đánh giá là một cấu phần quan trọng trong sức khỏe tổng thể của thế hệ trẻ. Những vấn đề về sức khỏe tâm thần trong thời kỳ vị thành niên có mối liên quan chặt chẽ với rất nhiều hành vi nguy cơ như tự tử, uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma túy…, có thể gây ảnh hưởng tức thì hoặc lâu dài tới sức khỏe thể chất cũng như tâm thần khi trưởng thành. Các số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ vị thành niên có biểu hiện rối loạn tâm thần tại một số nước phát triển như Úc, Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha đều trên 20% [21]. Tại Việt Nam, kết quả nghiên bước đầu của một nghiên cứu dọc tại cộng đồng (thực hiện từ năm 2000 đến 2015) ở 5 tỉnh cho thấy tỷ lệ trẻ 8 tuổi có triệu chứng rối loạn hành vi cũng vào khoảng 20% [19].

Nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần chỉ ra rằng trầm cảm (depression), lo âu (anxiety disorder) là những biểu hiện thường gặp của các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở vị thành niên [7]. Rối loạn lo âu thường xảy ra cùng với các suy nhược về thể chất và tâm thần. Lo âu có những triệu chứng khác nhau, nhưng tất cả các biểu hiện đều xoay quanh sự sợ hãi, lo lắng quá mức hay không có căn cứ. Ở vị thành niên rối loạn trầm cảm biểu hiện là những thay đổi về cảm xúc như cảm thấy buồn, khóc, vô vọng; không quan tâm đến những hoạt động vui chơi, giải trí hay suy giảm các hoạt động học tập tại trường; có thể biểu hiện ăn không ngon miệng hay thay đổi giấc ngủ hay có những khó chịu trong cơ thể một cách mơ hồ; ngoài ra trẻ còn nghĩ rằng không thể làm được việc gì đúng hoặc cảm thấy cuộc sống không có ý nghĩa hoặc vô vọng [11].

Nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh ở một số trường trung học cơ sở của một số thành phố ở Việt Nam của Lê Thị Kim Dung và cộng sự (2007) có những phát hiện đáng chú ý về tình trạng lo âu và trầm cảm ở học sinh. Tỉ lệ học sinh có biểu hiện lo âu là 12,3% và trầm cảm là 8,4% [2].

Trong khuôn khổ của bài báo này này chúng tôi tập trung vào 2 vấn đề sức khỏe tâm thần là trầm cảm và lo âu. Đây là những vấn đề thường gặp trong các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần của trẻ em. Trong đó, những yếu tố tác động tích cực làm giảm nhẹ các tác động tiêu cực, tăng cường sức khỏe tâm thần được gọi là yếu tố bảo vệ. Bên cạnh đó có những yếu tố có tác động tiêu cực, làm tăng khả năng xuất hiện các các vấn đề sức khoẻ tâm thần được gọi là yếu tố nguy cơ. Việc xác định rõ các yếu tố này giúp chúng ta xây dựng giải pháp can thiệp thích hợp để cải thiện vấn đề sức

khỏe tâm thần. Các yếu tố nguy cơ và bảo vệ có thể thuộc các lĩnh vực: sinh học, tâm lí và xã hội bao gồm các yếu tố về gia đình (sự quan tâm của cha mẹ, mối quan hệ của các thành viên trong gia đình…), trường học (sự gắn kết với nhà trường, vấn đề bạo lực tại trường học…), và cộng đồng (mối gắn kết với cộng đồng, các dịch vụ giải trí, các dịch vụ tư vấn của xã hội…) [22].

Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở trẻ em, đặc biệt là trầm cảm, lo âu nếu không được quan tâm phòng ngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại hậu quả cho cả cá nhân trẻ và gia đình chúng. Một trong những hậu quả nghiêm trọng của vấn đề là trẻ có thể có ý định tự tử và thực hiện hành vi tự tử. Vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè, ảnh hưởng đến kết quả học tập tại trường, năng suất lao động cũng như sự phát triển cá nhân nói chung. Vì vậy việc nhận thức đúng đắn, xác định rõ ràng vấn đề sức khoẻ tâm thần và phòng ngừa, chăm sóc, điều trị sức khoẻ tâm thần cho trẻ em và vị thành niên có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn. Nghiên cứu này nhằm xác định một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với trầm cảm và lo âu tập trung vào một số yếu tố về gia đình và nhà trường của học sinh 2 trường trung học cơ sở ở Hà Nội, trên cơ sở đó gợi ý cho việc xây dựng và triển khai chương trình can thiệp phù hợp với đối tượng vị thành niên học sinh.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế: Đây là điều tra ban đầu của một nghiên cứu can thiệp so sánh (trước sau không có nhóm chứng) được tiến hành từ 6/2007 - 6/2008 tác động vào một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với sức khỏe tâm thần cụ thể là trầm cảm, lo âu và một số hành vi nguy cơ đối với sức khỏe của vị thành niên. Kết quả của nghiên cứu can thiệp sẽ được trình bày trong một bài báo khác.

Đối tượng: Học sinh từ lớp 6 đến lớp 8

Địa điểm: Hai trường trung học cơ sở, 1 trường ở quận Ba Đình và 1 trường ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Mẫu nghiên cứu: Mỗi trường lựa chọn ngẫu nhiên 10 lớp (từ lớp 6-8) tham gia vào nghiên cứu, tổng số 974 em học sinh tham gia.

Bộ câu hỏi thu thập số liệu bao gồm 4 phần chính đó là các thông tin chung, môi trường gia đình, môi trường trường học và vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm trầm cảm, lo âu và một số hành vi nguy cơ đối với sức khỏe.

Thang đo được sử dụng trong bộ câu hỏi:

Thang đo trầm cảm: Sử dụng thang đo CES-D (The Centre for Epidemiological Studies- Depression Scale) gồm 20 tiểu mục [16]. Thang đo này đã được đánh giá về tính giá trị và độ tin cây đối với đối tượng vị thành niên ở Việt Nam (với = 0,87) [8]. Trong nghiên cứu này = 0,82)

Thang đo lo âu: Sử dụng thang đo gồm 13 tiểu mục đã bước đầu được đánh giá tính giá trị và độ tin cậy đối với đối tượng vị thành niên ở Việt Nam (với = 0,82) [8]. Trong nghiên cứu này = 0,81)

Thang đo mức độ bị trêu ghẹo/bắt nạt tại trường học: Nhóm nghiên cứu xây dựng dựa trên tham khảo kỹ lưỡng các tài liệu trong và ngoài nước. Thang đo gồm 5 tiểu mục với lựa chọn trả lời ở 3 mức (không bao giờ, thỉnh thoảng, thường xuyên) để đo lường mức độ bị bắt nạt tại trường học trong vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra. Thang đo có độ tin cậy cao ( = 0,79).

Thang đo mối quan hệ/ gắn kết với cha và mẹ: Sử dụng thang đo của Parker và cộng sự (Parental Bonding Scale) [14], đây là thang đo được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ở nước ngoài, có độ tin cậy và tính giá trị cao ( = 0.83 cho thang đo với mẹ và = 0.84 cho thang đo với cha). Thang đo gồm có 25 tiểu mục tách riêng cho cha và mẹ, và đánh giá 2 khía cạnh là chăm sóc (care) và bảo vệ quá mức (overprotection).

Thang đo sự gắn kết với nhà trường: Sử dụng thang đo tham khảo của nước ngoài (School Connectedness Scale) với 7 tiểu mục [5] (trong nghiên cứu này = 0.83).

 

Thu thập số liệu

Nghiên cứu được sự cho phép của Ban giám hiệu của 2 trường được mời tham gia. Số liệu thu thập bằng phương pháp sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. Các em học sinh tự nguyện tham gia nghiên cứu trả lời các câu hỏi tại lớp học với sự có mặt của một cán bộ nghiên cứu. Thời gian để các em trả lời xong bộ câu hỏi khoảng 25-30 phút.

Trước khi tiến hành nghiên cứu, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa thông qua thử nghiệm với đối tượng học sinh để các em trao đổi và góp ý về sự trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu của ngôn ngữ và cách thiết kế bộ câu hỏi.

Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 13 để phân tích số liệu. Để phân tích các yếu tố liên quan với trầm cảm và lo âu, cần kiểm soát một số yếu tố nhiễu như các biến về dân số học, đặc điểm gia đình…). Bước thứ nhất trong phân tích chúng tôi sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến (Multivariable linear regression models) để xác định các hợp biến (covariates) có ý nghĩa thống kê. Bước thứ 2 sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát (General linear Models - GLM) để xác định các yếu tố liên quan. Phân tích được tách riêng cho nhóm học sinh nam và nữ.

 

3. Kết quả nghiên cứu

 

3.1 . Một số thông tin chung

Tỷ lệ học sinh giữa trường ngoại thành và nội thành (51,7% và 48,3%), giữa nam và nữ (51,3% và 48,7%) và giữa 3 khối lớp 6, 7 và 8 (33,3%, 36,0% và 30,7%) là khá tương đồng. Chỉ có gần 2% em báo cáo có lực học kém trong học kỳ trước. Về tình trạng kinh tế của gia đình có 12,3% được đánh giá là khá và giàu (gia đình có ô tô), 74,1% là trung bình (gia đình có xe máy) và 13,6% là nghèo (gia đình chỉ có xe đạp). Gần 3% các em có bố mẹ bỏ nhau và 2,5% mồ côi cha/mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ. Có khoảng 25% các em không biết trình độ học vấn của cha/mẹ.

Khi được hỏi về mối quan hệ trong gia đình, trên 50% các em đã chứng kiến cha mẹ cãi nhau trong đó gần 15% ở mức độ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên. Gần 20% các em đã chứng kiến cha mẹ đánh nhau trong đó gần 5% chứng kiến ở mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên. Khi cần có sự giúp đỡ về tình cảm tới gần 40% các em chia sẻ với bạn bè sau đó mới đến mẹ (20,0%), anh/chị em (14,9%) và với cha chỉ có 4,9% và có tới trên 15% các em không chia sẻ với bất cứ ai.

 

3.2. So sánh mức độ trầm cảm và lo âu theo giới, địa bàn trường học và khối lớp

Bảng 1 cho thấy học sinh nữ có mức độ lo âu cao hơn nam trong khi đó không có sự khác biệt giữa 2 giới về mức độ trầm cảm. Các em học sinh ở nội thành có mức độ trầm cảm và lo âu cao hơn các em ở khu vực ngoại thành. Không có sự khác biệt về mức độ trầm cảm và lo âu khi so sánh giữa 3 khối lớp.

 




Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 16:00
 
Các bài viết khác:
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat