English (United Kingdom)
Bảng quảng cáo

Polls

Nội dung của website VPHA
 

Thông báo

Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.

Sự kiện sắp tới

<<  Tháng 5 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Ấn phẩm

an pham
Số lần xem bài viết : 210135
Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở  Email
Viết bởi Lê Thanh Nhuận (*), Lê Cự Linh (**)   
Thứ hai, 26 Tháng 10 2009 18:32
Chỉ mục bài viết
Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở
Page 2
Page 3
Tất cả các trang

 

Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế, đặc biệt trong bối cảnh đang có sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế ở quy mô toàn cầu, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng như tại Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở và tìm hiểu các yếu tố liên quan. Nghiên cứu được thực hiện trên 142 nhân viên y tế tuyến cơ sở đang làm việc ở Bệnh viên Đa khoa, Trung tâm Y tế Dự phòng huyện và các Trạm Y tế xã tại một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc với bộ công cụ gồm 40 mục thuộc 7 yếu tố có giá trị dự đoán sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế cơ sở với độ tin cậy cao; Ngoài ra, mục "hài lòng chung đối với công việc" được sử dụng để tìm hiểu mối liên quan giữa sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế và các biến xã hội - nhân khẩu/nghề nghiệp và các yếu tố về sự hài lòng đối với công việc. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế chưa thực sự hài lòng đối với công việc, tỷ lệ hài lòng từng yếu tố đạt thấp: Lương và phúc lợi (32,4%); Cơ sở vật chất (39,4%); Kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc (50,0%); Mối quan hệ với lãnh đạo (52,1%); Học tập, phát triển và khẳng định (52,5%); Môi trường tương tác của cơ quan (53,5%); Mối quan hệ với đồng nghiệp (67,6%). Tuy nhiên, Tỷ lệ nhân viên y tế hài lòng chung đối với công việc đạt tương đối cao 71,1%. Sự hài lòng chung đối với công việc có mối liên quan đối với nhóm tuổi và 7 yếu tố (P = 0,001)

 

Từ khóa: Hài lòng đối với công việc, nhân viên y tế

Job satisfaction of health workers at district and commune level


Job satisfaction may improve health workers retention and performance in clinical practice, especially in the circumstance of critical shortage of health service providers in the world, Asia- Pacific region and Viet Nam. The purpose of this study was to identify job satisfaction of health workers at district and commune level and to determine the association between health workers' job satisfaction and the socio-demographic/professional variables and job satisfaction factors. As many as 142 participants including doctors, pharmacists, assistant doctors, nurses, midwives, etc… working in the General Hospital, Preventive Medicine Center and Commune Health Stations of a district in Vinh Phuc province were asked to complete a 40-item survey containing 7 sections representing health workers' job satisfaction in complement to the socio-demographic/ professional information. The item "Overall job satisfaction" was used to determine the associations between health workers' job satisfaction and other variables. The result of this study show that health workers at district and commune level had not been satisfied with their job and the percentage of health workers satisfying with their job was low: salary and benefit (32,4%), physical facilities (39,4%), knowledge, skill and performance results (50%), relationship with leaders (52,1%), learning and developing (52,5%), interaction within the setting (53,5%) and relationship with colleague (67,6%). However, overall job satisfaction of health workers is high and significantly associated with age group and 7 factors of job satisfaction (p = 0,001)

 

Key words: Job satisfaction, health worker

 

Tác giả:

 

(*) ThS. Lê Thanh Nhuận, chuyên viên phòng Kế hoạch Tổng hợp, Sở Y tế Lâm Đồng. Địa chỉ: 4 Trần Hưng

Đạo - Đà Lạt - Lâm Đồng. Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 

(**) TS. Lê Cự Linh, Trưởng Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội. Địa chỉ: 138

Giảng Võ, Hà Nội. E.mail: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 

 

1. Đặt vấn đề:

Con người là thành tố quan trọng của mọi tổ chức, cơ quan nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho mọi thành tựu y tế[16].

Tuy vậy, hiện đang có một sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực y tế ở quy mô toàn cầu[16], cũng như ở các quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương[13]. Việt Nam cũng đang đương đầu với những vấn đề về nguồn nhân lực, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế cũng như mất cân đối giữa các chuyên ngành và phân bố giữa các vùng miền[15]. May thay, những nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế[6],[7],[9],[10],[11],[12].

Tại Việt Nam, đã có một số ít nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của đối tượng điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh viện các tuyến sử dụng thang đo chỉ số chất lượng nghề nghiệp (Quality Work Index) của Whitley, 1994[1],[4]. Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào về sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở, nơi có vị trí chiến lược rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, bởi vì: Y tế cơ sở là đơn vị y tế gần dân nhất; giải quyết 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ; là nơi thể hiện rõ nhất sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe[2]. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở và tìm hiểu các yếu tố liên quan.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

 

2.1. Thiết kế nghiên cứu và mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, dựa trên bộ câu hỏi định lượng. Mẫu nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ nhân viên y tế cơ sở tại một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, miền Bắc Việt Nam. Nhân viên y tế được xác định theo định nghĩa của WHO (2006)[16], bao gồm: những người cung cấp dịch vụ y tế như bác sỹ, dược sỹ, y sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác như nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý. Cán bộ nhân viên phòng y tế, giám đốc Bệnh viện Đa khoa và Trung tâm Y tế Dự phòng huyện là đối tượng loại trừ trong nghiên cứu này. Có 142/163 nhân viên y tế tham gia vào nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 87,1%; trong đó, tại Bệnh viện Đa khoa huyện là 53/62 (85,5%), Trung tâm Y tế Dự phòng huyện là 26/33 (78,8%) và các trạm y tế xã, thị trấn là 63/68 (92,7%). Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi từ 21 đến

59 (trung bình 35,8; độ lệch chuẩn: 10.5); tỷ lệ nam giới là 45,1% và nữ giới là 54,9%; trình độ chuyên môn cử nhân, dược sỹ và bác sỹ chiếm 14,1%, trình độ từ sơ cấp đến trung cấp y dược có tỷ lệ 70,4% và chuyên ngành khác là 15,5%. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. Người tham gia nghiên cứu tự trả lời các câu hỏi theo từng nhóm 3 - 7 người với sự có mặt của điều tra viên. Thời gian để người tham gia nghiên cứu hoàn thành bộ câu hỏi phỏng vấn từ 25 - 30 phút.

 

2.2. Biến số nghiên cứu

Ngoài những biến số về xã hội - nhân khẩu/nghề nghiệp, chúng tôi sử dụng bộ công cụ 40 mục thuộc 7 yếu tố, gồm: Mối quan hệ với lãnh đạo (8 mục); Mối quan hệ với đồng nghiệp (6 mục); Lương và phúc lợi (6 mục); Học tập, phát triển và khẳng định (7 mục); Môi trường tương tác của cơ quan (7 mục); Kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc (4 mục) và Cơ sở vật chất (2 mục) và mục "Hài lòng chung đối với công việc". Thang đo mức độ hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc được xây dựng từ mức độ "Rất không hài lòng" đến "Không hài lòng", "Tạm được", "Hài lòng" và "Rất hài lòng" theo thang điểm từ 1 đến 5. Bộ công cụ này đã được thử nghiệm với kết quả là có giá trị dự đoán sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở với độ tin cậy cao[3]

2.3. Phân tích số liệu:

Điểm chuẩn hóa đại diện cho từng yếu tố được tính bằng tổng của điểm từng mục nhân với hệ số tải nhân tố (Factor loading) của nó trong yếu tố đó. Mức điểm hài lòng của từng yếu tố được tính bằng tổng điểm của 4 (điểm hài lòng) nhân với hệ số tải nhân tố của mục đó trong yếu tố. Sự hài lòng đối với công việc theo từng yếu tố được mã hóa thành

2 nhóm: nhóm chưa hài lòng (< mức điểm hài lòng) và nhóm hài lòng ( mức điểm hài lòng) của yếu tố đó.

Mục "Hài lòng chung đối với công việc" được xem là yếu tố kết quả (outcome) về sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế. Biến này được sử dụng để tìm hiểu các mối liên quan về sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế với với các biến xã hội - nhân khẩu/nghề nghiệp và các yếu tố về sự hài lòng về công việc. Test ÷2, tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI) được sử dụng để tìm mối liên quan giữa sự hài lòng chung đối với công việc của nhân viên y tế.

Số liệu được nhập và xử lý với phần mềm Epi Data 3.1 và SPSS (Statistical Package for Social Sciences) phiên bản 15.0.

 

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế


 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Điểm trung bình hài lòng đối với từng yếu tố của nhân viên y tế đều thấp hơn mức điểm hài lòng của yếu tố đó.

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế chưa hài lòng với cả 7 yếu tố. Điểm trung bình hài lòng của nhân viên y tế đối với từng yếu tố đều thấp hơn mức điểm hài lòng. Tỷ lệ nhân viên y tế hài lòng với từng yếu tố đạt thấp: yếu tố lương và phúc lợi (32,4%), yếu tố cơ sở vật chất (39,4%), yếu tố kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc (50,0%), yếu tố mối quan hệ với lãnh đạo (52,1%), yếu tố học tập, phát triển và khẳng định (52,5%), yếu tố môi trường tương tác của cơ quan (53,5%) và cao nhất là yếu tố mối quan hệ với đồng nghiệp (67,6%). Tuy nhiên, mục hài lòng chung đối với công việc đạt cao 71,1%.

 



Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:59
 
Các bài viết khác:
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat