Menu chính
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Tạp chí |
| Hội nghị hàng năm |
| Các chương trình |
| Tài liệu |
| Thư viện |
| Liên kết |
| Liên hệ |
| Diễn đàn |
Polls
Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.| Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của phụ nữ có thai dân tộc Mường tại huyện Tân Lạc – Hòa Bình |
| Viết bởi Huỳnh Nam Phương(*), Phạm Thị Thúy Hòa(**) | ||||
| Thứ hai, 26 Tháng 10 2009 17:41 | ||||
Trang 1 của 2 Can thiệp dinh dưỡng sớm trong thời kỳ mang thai là một giải pháp chiến lược nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em. Nghiên cứu tập trung tìm hiểu tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của phụ nữ có thai dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình. Số liệu nhân trắc được thu thập ở toàn bộ 238 phụ nữ có thai thuộc 6 xã miền núi, khẩu phần thực tế của 77 phụ nữ có thai 3 tháng giữa cũng được thu thập bằng phương pháp hỏi ghi 24h. Kết quả cho thấy phụ nữ dân tộc Mường ở các xã nghiên cứu bước vào thời kỳ sinh đẻ với một tình trạng dinh dưỡng kém với 42.2% thiếu năng lượng trường diễn, mức tăng cân trong thời kỳ mang thai không đạt được mức khuyến nghị về mức tăng cân cần thiết. Khẩu phần ăn của phụ nữ có thai Hòa Bình mặc dù đã có sự ưu tiên so với mặt bằng chung nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị (năng lượng đạt 80%, tỷ lệ Protid : Lipid : Glucid là 14.8 : 16.2 : 69.0, protid thiếu 12g, lipid thiếu 19-33 g/ngày, Vitamin A và sắt đạt 30% so với nhu cầu khuyến nghị). Cần có những giải pháp can thiệp đặc hiệu về mặt kỹ thuật và xã hội để cải thiện tình trạng này
Từ khóa: phụ nữ có thai, dân tộc Mường, tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần
Nutrional status and actual dietary intake of the Muong pregnant women in Tan Lac district, Hoa Binh province
Early nutrition interventions before and during pregnancy are the strategic approach towards the improvement of child nutrition. This study aims to investigate nutritional status and dietary characteristics of pregnant women among the Muong ethnic minority group living in Hoa Binh province. Anthropometric data was collected from all 238 pregnant women living in 6 mountainous communes and dietary data was also collected from 77 pregnant women in the 2nd trimester by 24- hour recall method. The results reveal that those women entered pregnancy period with a poor nutritional status (42.2% having chronic energy deficiency). Weight gain in this period did not reach the recommended requirement. Even though their diet has been given some priorities compared to the average diet, it has not yet met recommendations for pregnancy (energy reaching 80%, the ratio of protid: lipid: glucid being 14.8 : 16.2 : 69.0, protid 12grs in short, lipid 19-33 gr./day in short, Vitamin A and iron reaching only 30% of the recommendation level). There should be specific interventions, both technical and social, to improve this situation.
Keywords: pregnancy, Muong ethnic minority, nutritional status
Các tác giả:
(*) Thạc sỹ, bác sỹ Huỳnh Nam Phương, Trung tâm đào tạo dinh dưỡng và thực phẩm, Viện Dinh dưỡng, 48B Tăng Bạt Hổ - Hà Nội, Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. , điện thoại: 0122.839.2273, cơ quan: 04.39724031
(**) Tiến sỹ, bác sỹ Phạm Thị Thúy Hòa, Giám đốc Trung tâm đào tạo dinh dưỡng và thực phẩm, Viện Dinh dưỡng, 48B Tăng Bạt Hổ - Hà Nội, Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. , điện thoại: 0912357799, cơ quan: 04.39724030
1. Đặt vấn đề Theo cách tiếp cận của "dinh dưỡng theo vòng đời", ảnh hưởng của dinh dưỡng sớm sẽ giúp tác động vào vòng xoắn của suy dinh dưỡng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dinh dưỡng tốt của giai đoạn trước mang thai và trong khi mang thai của người phụ nữ được chứng minh là có thể giảm tới 50% thấp còi ở trẻ em [12] Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ và tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân vẫn còn khá cao ở vùng nông thôn, các vùng dân tộc miền núi [9]. Dân tộc Mường là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa. Tại Hoà Bình, người Mường chiếm tỷ lệ cao nhất trong dân số (63%). Xuất phát từ tình hình dinh dưỡng và các vấn đề dinh dưỡng đang tồn tại, định hướng mới cần tập trung vào chiến lược chăm sóc sớm (bà mẹ trước khi có thai, trong khi mang thai, trẻ em từ ngay khi sinh), chiến lược ưu tiên đặc thù (theo thực tế từng địa phương), chiến lược cải thiện dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời [2]. Muốn xây dựng được các chiến lược can thiệp, cần có những bằng chứng khoa học về thực trạng dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng của các nhóm đối tượng trong đó có phụ nữ có thai ở những vùng khó khăn. Vì vậy nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của phụ nữ có thai dân tộc Mường sống tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. 2. Phương pháp nghiên cứu Đối tượng Phụ nữ có thai trên địa bàn 6 xã có dân số lớn nhất thuộc huyện Tân Lạc - tỉnh Hòa Bình Phương pháp chọn mẫu ![]()
- Cỡ mẫu: cỡ mẫu cân đo nhân trắc dựa vào công thức tính cỡ mẫu để ước tính giá trị trung bình về cân nặng của phụ nữ có thai theo từng quí thai [7]. Với độ lệch chuẩn từ nghiên cứu trước là 5, sai số cho phép là 1kg và độ tin cậy 90% (z = 1.645) thì cỡ mẫu cần có là 68 phụ nữ có thai, nhân cho 3 quí thai thì tổng số mẫu cần có là 204 người. Cỡ mẫu hỏi ghi khẩu phần lấy 30% tổng số mẫu chung, làm tròn là 70 người. - Chọn mẫu: toàn bộ phụ nữ được xác định là có thai trên địa bàn 6 xã nghiên cứu được cân đo (238 người), toàn bộ phụ nữ có thai 3 tháng giữa được hỏi ghi khẩu phần (77 người) Phương pháp thu thập số liệu - Nhân trắc: Cân nặng và chiều cao của đối tượng được thu thập bằng dụng cụ chuẩn. Cân nặng và chiều cao trung bình của đối tượng được tổng hợp và tính theo quí thai. Chỉ số khối cơ thể BMI được tính bằng cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao(m), BMI dưới 18.5 được xác định là thiếu năng lượng trường diễn [5]. - Hỏi ghi khẩu phần: Phụ nữ có thai 3 tháng giữa (được coi là có chế độ ăn ổn định nhất trong thời kỳ mang thai, ít chịu ảnh hưởng của nghén trong 3 tháng đầu và chèn ép của 3 tháng cuối) được chọn để hỏi ghi khẩu phần 24 giờ qua [6]. Phân tích số liệu: Số liệu nhân trắc và khẩu phần sau khi làm sạch được nhập và xử lý bằng chương trình EPIData 3.1
3. Kết quả nghiên cứu Đối tượng tham gia nghiên cứu tương đối trẻ, tuổi trung bình 24, và có hơn một nửa là có thai lần đầu. Dân tộc Mường chiếm đa số (87%) và chủ yếu sống bằng nông nghiệp (89%). Trình độ học vấn và điều kiện kinh tế tương đối khá so với khu vực miền núi (76% từ trung học cơ sở trở lên, 28.2% thuộc hộ nghèo). Do việc xác định thai và đăng ký thai thường sau 3 tháng nên chỉ có 20% đối tượng ở 3 tháng đầu, còn lại chủ yếu là 3 tháng giữa và cuối. Lấy số đo cân nặng và chiều cao của đối tượng làm chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ có thai trong cả 3 quý thai (Bảng 1), ta thấy chiều cao của 3 nhóm đều không có sự khác biệt, như vậy có thể coi tình trạng dinh dưỡng của các đối tượng này gần như giống nhau hay nói cách khác là đồng nhất, và cân nặng trung bình của từng nhóm có thể dùng để so sánh và xác định mức tăng cân của từng quí thai. Với cách tính này thì trung bình đến quí 2, phụ nữ có thai nghiên cứu tăng thêm được 4.33 kg so với quí 1, đến quí 3 tăng được 3.24 kg so với quí 2 (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê). Mức tăng cân này đạt đến mức khuyến nghị cho phụ nữ bình thường ở quí 2 (tăng thêm 4-5 kg so với quí 1) nhưng chưa đạt được mức khuyến nghị ở quí 3 (tăng thêm 5-6 kg so với quí 2) [4]. Nếu coi cân nặng của quí 1 gần như không thay đổi, thì tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của phụ nữ vào thời kỳ đầu mang thai hay trước khi có thai cao tới 42.2%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ này ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ 20-49 tuổi vùng Tây Bắc (19.76%) và ở nông thôn (28.31%) theo kết quả của Tổng điều tra 2000 [1] Với những đối tượng có BMI thấp trước khi mang thai thì mức tăng cân khuyến nghị còn cao hơn nữa và chắc chắn là nhóm đối tượng nghiên cứu không đáp ứng được. Nếu giả định phụ nữ có thai 3 tháng cuối sẽ tăng được trung bình 9 kg, lấy cân nặng quí 3 của từng đối tượng trừ đi 9 kg và tính BMI thì tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của phụ nữ có thai 3 tháng cuối tăng lên tới 56.6%. Điều đó khẳng định rằng, đối tượng nghiên cứu có tình trạng dinh dưỡng kém trước khi mang thai và không tăng đủ số cân tối thiểu trong quá trình mang thai, tình trạng này được coi là ở mức độ rất nghiêm trọng [11]. Vì đây là nghiên cứu cắt ngang nên không có được số liệu về cân nặng của đối tượng trước khi mang thai một cách chính xác, dựa trên nhớ lại của đối tượng và so sánh với cân nặng tại thời điểm điều tra, ta thấy có 184 người ghi nhận là có tăng cân và 35 người ghi nhận là có giảm cân so với trước khi mang thai. Để tìm hiểu căn nguyên của tình trạng dinh dưỡng kém ở đối tượng từ đó tìm ra giải pháp can thiệp, chúng tôi đánh giá khẩu phần thực tế của phụ nữ có thai (Bảng 2) Theo bảng 3, so với bình quân đầu người vùng Tây Bắc năm 2000 thì khẩu phần của phụ nữ có thai Hòa Bình có sự cải thiện hơn về cả số lượng lẫn chất lượng. Năng lượng khẩu phần cao hơn (2126.1 kcal so với 2063.9 kcal), lượng protid và lipid cũng đều cao hơn, khẩu phần cân đối hơn với tỷ lệ P:L:G là 14.8:16.2:69. Tuy nhiên, khẩu phần này có thể chỉ được coi là đạt yêu cầu đối với người bình thường, còn so sánh với khuyến nghị cho phụ nữ có thai thì vẫn chưa đáp ứng được về cả số lượng và chất lượng. Cụ thể: năng lượng mới đạt được 83% so với năng lượng khuyến nghị dành cho phụ nữ có thai 3 tháng giữa, protid thiếu khoảng 12g/ngày (đạt 81-86%), lipid thiếu 19-33g/ngày (đạt 54-67%), và đặc biệt 2 vi chất quan trọng là Vitamin A và sắt cũng chỉ đạt được 30% so với nhu cầu cao của phụ nữ có thai. |
||||
| Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:59 |
- TIN HOẠT ĐỘNG HỘI Y TẾ CÔNG CỘNG VIỆT NAM
- Đánh giá hoạt động mô hình Tuệ Tĩnh đường - Thành hội phật giáo Hà Nội trong chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS từ năm 2005 – 2007
- Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở
- Mối liên quan của việc xem phim ảnh và trang web khiêu dâm tới quan niệm và hành vi tình dục của thanh thiếu niên chưa kết hôn ở quận Gia Lâm, Hà Nội
- Mô hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người nhiễm HIV/AIDS tại quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng
- Sử dụng kĩ thuật pSử dụng kĩ thuật phân tích dọc và phân tích nhị biến tìm hiểu đặc điểm tuổi dậy thì và quan hệ tình dục ở vị thành nhn tích dọc v phn tích nhị biến tìm hiểu đặc điểm tuổi dậy thì v quan hệ tình dục ở vị thành niên tại Chí Linh, Hải Dương
- Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội
- Đuối nước và phòng chống đuối nước cho trẻ em












