Menu chính
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Tạp chí |
| Hội nghị hàng năm |
| Các chương trình |
| Tài liệu |
| Thư viện |
| Liên kết |
| Liên hệ |
| Diễn đàn |
Polls
Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.| Phòng bệnh ung thư | PDF. |
| Viết bởi PGS. Đoàn Hữu Nghị |
| Thứ hai, 05 Tháng 10 2009 16:51 |
|
Tóm tắt Năm 1985, khi Giám đốc Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Mỹ (NCI), Giáo sư V. Devita viết: "Ung thư là một trong những bệnh mạn tính dễ chữa và phòng ngừa nhất", nhiều người đã hoài nghi. Càng ngày, theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những thành tựu trong phòng bệnh và điều trị ung thư càng cho thấy khả năng tin cậy của điều tiên đoán này. Bản đồ gen người gồm 300.000 gen đã được công bố, đã biết được 50 ổ gen ung thư, một số cơ chế cảm ứng hoạt hoá và ức chế các ổ gen đó. Thực nghiệm đã gây ung thư bằng nhiều loại hoá chất liên quan ung thư trên người. Dịch tễ học đã tìm ra hàng loạt các yếu tố sinh bệnh trong tự nhiên và ứng dụng công nghệ. Nhờ phát hiện sớm và những kỹ thuật hiện đại đã điều trị khỏi trên 50% các bệnh nhân ung thư. Tất cả những thành tựu ấy mang đến là những hiệu quả to lớn cho công tác phòng chống ung thư, đặc biệt nó tạo cơ sở khoa học, độ tin cậy và hiệu quả thực tế của công tác phòng bệnh ung thư mặc dù con đường chiến thắng ung thư sẽ còn dài hàng chục năm nữa.
Phòng bệnh ung thư có lịch sử không phải ngắn. Cách đây hơn 200 năm BS. Percivall Pott đã mô tả ung thư da bìu trên những trẻ em nạo ống khói ở Anh và đề ra các phương pháp đề phòng. Phải qua 100 năm các biện pháp phòng ngừa đó mới được thực hiện đầy đủ và ngày nay không còn căn bệnh ấy nữa. 20 năm qua là chặng đường tiến bộ lớn trong nghiên cứu ung thư, nó được tính bằng cả một thế kỷ trước đó. Hiệp hội chống ung thư quốc tế đề ra 4 chương trình: Phòng bệnh ung thư; Phát hiện bệnh sớm; Chữa những ung thư có thể khỏi được và Chống đau ung thư ở giai đoạn muộn. Chương trình phòng bệnh ung thư chiếm vị trí ưu tiên quan trọng.
Phòng bệnh ung thư có hai mục đích: Làm giảm tỷ lệ mắc bệnh do loại trừ những yếu tố nguy cơ gây ung thư gọi là phòng bệnh cấp 1 (Primary Prevention) và làm giảm tỷ lệ chết do ung thư thông qua phát hiện sớm, điều trị những tổn thương tiền ung thư.... gọi là phòng bệnh cấp 2 (Secondary Prevention).
Hai đối tượng của phòng bệnh ung thư là: Phòng bệnh ở cấp độ quần thể (tránh nguồn gây bệnh. Ví dụ: phóng xa hay áp dụng các chương trình khám phát hiện trên nhóm dân số có nguy cơ ung thư cao...) hoặc trên cấp độ cá thể với những lối sống, thói quen, nghề nghiệp có nguy cơ riêng.
(Có thể phòng được 30% các ung thư, phòng bệnh ung thư không tốn kém hiệu quả cao nhưng chưa được quan tâm đầy đủ; cần nghiên cứu nhiều hơn nhưng phải bắt tay ngay vào việc ứng dụng).
Abstract In 1985, scepticism was raised when Professor V. Devita - Director of the US National Cancer Institute (NCI) wrote "Cancer is one of chronic diseases which is the most curable and preventable". Over the time, thanks to rapid science-technology development, achievements made in cancer prevention and treatment have proved the reliability of the above anticipation. Human genetic decoding map consisting of 300,000 genes has been publicised. As a result, 50 genetic focuses, activated reaction as well as inhi- bition mechanism of those genes are known by people. Many chemicals, through experimental studies, have been found to cause human cancer. A number of pathogenetic factors were found epidemiological- ly in the nature and techological applications. Thanks to early detection and modern treatment tech- niques, as many as 50% of cancer patients have been successfully recovered. Those recorded achieve- ments prove the effectiveness of cancer prevention, especially in creating scientific basis, reliability and practical efficiency for such work, regardless the fact that the final victory over cancer may last for dozens of years.
Cancer prevention has a long history. Over 200 years ago, Dr Percivall Pott described cancer found on sarcotesta skin of chimney-sweeper children in England and proposed prevention methods. It took a hun- dred years to comprehensively conducted those prevention methods and eliminated that cancer. The past 20 years have seen a drammatical progress in cancer research, which can be compared to progress made in the whole past century. The International Cancer Association initiated 4 programs: Cancer prevention, early cancer detection, treatment of curable cancer and palliative care for cancer. Priority has been set for cancer prevention program.
Cancer prvention has two purposes: to reduce the incident rate by eliminating pathogenetic factors/pathogens for cancer, which is called as primary prevention and to reduce the mortality rate by ealry detection, treatment of pre-cancerous trauma, ect., which is called as secondary prevention.
The two targets of cancer prevention are as follows - prevention at the population level (by avoiding pathogens such as radiation, application of cancer high-risk population screening) or at individual level with issues such as life styles, habits, occupations at risk.
(30% of all kinds of cancer can be prevented, cancer prevention is highly effective and inexpensive. However, it has not been paid adequate attention more research work should be done together with imme- diate application of those research findings).
|
| Cập nhật ngày Thứ hai, 27 Tháng 6 2011 10:37 |
- Thông tin y tế công cộng trong nước và quốc tế
- Thông tin thường kỳ về phòng chống tác hại thuốc lá
- Tin hoạt động hội y tế công cộng Việt Nam
- Mô hình chấn thương dựa vào số liệu bệnh viện tại 6 tỉnh Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam, Đồng Nai, Tiền Giang
- Một số yếu tố liên quan đến nạo phá thai ở phụ nữ có thai lần đầu tại TP. Hồ Chí Minh
- Nồng độ Hemoglobin ở phụ nữ tuổi sinh đẻ có thể được cải thiện khi sử dụng nước mắm có bổ sung NaFeEDTA
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và phòng chống bệnh dịch hạch tại Việt Nam 1975 - 2003
- Đương đầu với các đe dọa của bệnh truyền nhiễm ở Châu Á - Thái Bình Dương qua cộng tác khu vực và quốc té
- Giáo dục sức khỏe - một phần quan trọng của nâng cao sức khỏe
- Gia đình và giáo dục tình dục, sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên










