| Yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3 tại thành phố Hồ Chí Minh |
| Viết bởi Ths. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang | ||||
| Thứ năm, 08 Tháng 10 2009 23:53 | ||||
Trang 1 của 2 Tóm tắt Hiện có khoảng 17 triệu trẻ vị thành niên (VTN) tại Việt Nam (22%) và hơn 1 triệu trẻ VTN tại Tp HCM. Hoạt động tình dục sớm, nạo phá thai ở lứa tuổi này là mối lo của gia đình và xã hội. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là xác định mối liên quan của một số yếu tố với hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3. Chúng tôi thực hiện phương pháp nghiên cứu cắt ngang tại 25 trường PTTH ở TpHCM trên 3196 học sinh. Kết quả cho thấy: tuổi có kinh lần đầu trung bình 12,33 ± 0,75 tuổi (Min=9,05; Max=18,3); tuổi mộng tinh lần đầu trung bình 14,25 ± 0,58 tuổi (Min=11,25; Max=19). Có 8,17% có quan hệ tình dục (QHTD), nam nhiều hơn nữ 2,63 lần. Tuổi QHTD trung bình lần đầu 17,55 ± 0,45 tuổi. Cả nam, nữ đều thích thảo luận các vấn đề về tính dục với bạn bè hơn với cha mẹ. Chúng tôi thấy dậy thì sớm, thiếu kiến thức, thiếu sự quan tâm của gia đình có thể là đưa đến có QHTD sớm. Vì vậy, nhu cầu giáo dục giới tính cho học sinh là cấp thiết. Abstract There are about 17 million adolescents (accounting for 22% population) in Viet Nam and about 1 million adolescents (18,2% population) in Ho Chi Minh City. Adolescents' early sexual activity and abortion have become worries of both the family and the society. Our objective is to identify the rela- tionship between some factors and the sexual behaviors of secondary general school. A cross-sec- tional study was conducted by a survey with participation of 3,196 male and female students from the tenth to the twelfth grade of 25 randomly selected schools in Ho Chi Minh City. Results: Mean age of first menarche - 12,33 ± 0,75 yrs (Min=9,05; Max=18,3); mean age of first wet dream - 14,25 ± 0,58 yrs (Min=11,25; Max=19). As much as 8,17% of them had sexual activities, with male's involvement 2.63 times higher than that of female's. Mean age at first intercourse - 17,55 ± 0,45 yrs. Both male and female students preferred to discuss sexual topics with their friends rather than their parents. Earlier puberty, lack of knowlegde, lack of family concerns may result in early sexual activ- ity among secondary general school students. Besides, urgent needs of sex education in high schools of Ho Chi Minh City were found from the study. 1. Đặt vấn đề Trên thế giới ước tính có khoảng 1/5 dân số tuổi từ 10 - 19 tuổi, tức là khoảng 1,1 tỷ người, trong đó có 85% hiện ở các nước đang phát triển. Đây là lực lượng kế thừa quan trọng của mọi quốc gia, mọi dân tộc. Ước tính có khoảng 500 triệu trẻ vị thành niên 15 - 19 tuổi có quan hệ tình dục trước tuổi 20 với nguy cơ cao cho việc có thai ngoài ý muốn, nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh lây qua đường tình dục. Mỗi ngày có khoảng 16.000 trường hợp nhiễm HIV trong đó hơn 50% là ở lứa tuổi từ 15 - 24 tuổi và 95% là ở các nước đang phát triển. Hàng năm có khoảng 12 triệu trường hợp nhiễm các bệnh lâylan qua đường tình dục, 1/4 trong số đó là ở tuổi vị thành niên[14]. Mỗi năm khoảng 10% số trẻ được sinh ra từ các bà mẹ ở tuổi vị thành niên[11]. Những năm gần đây tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên dưới 18 tuổi tại các cơ sở y tế theo báo cáo của Trung tâm Bảo vệ Bà mẹ - Trẻ em và Kế hoạch hoá gia đình thành phố Hồ Chí Minh gia tăng mỗi năm, cụ thể 1994: 538 trường hợp, 1995: 1.423 trường hợp và 1996: 1.448 trường hợp. Tỷ lệ nạo phá thai tính chung ở nhóm dưới 18 tuổi là 0,87 % trong 6 tháng đầu năm 1999 [3], [6]. QHTD ở tuổi vị thành niên là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố sinh học, gia đình và xã hội. Về phương diện sinh học, sự hình thành và thai đổi các ngưỡng nội tiết tố sinh dục khi xảy ra hiện tượng dậy thì ở cả nam lẫn nữ đóng vai trò quan trọng liên quan đến việc hình thành thái độ và hành vi tình dục ở lứa tuổi vị thành niên.
Tại Việt Nam, theo Vũ Quý Nhân có 42,3% nam và 21,2% nữ vị thành niên sẵn sàng QHTD với người yêu [12]. Tỷ lệ này theo Nguyễn Quý Thanh là 48,2% cả 2 giới nam nữ [4]. Tuy nhiên vai trò của trinh tiết vẫn còn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hôn nhân và gia đình người Việt Nam. Theo tác giả Nguyễn Quốc đã có kinh, đã có QHTD, đến cơ sở y tế vì có thai, đến để bỏ thai, đồng ý tham gia nghiên cứu. Nhóm chứng là nữ, đang học cấp 3, cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh, đã có kinh, chưa có QHTD, đến khám vì các vấn đề liên quan kinh nguyệt, đồng ý tham gia nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu: Phòng khám Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, Phòng khám phụ sản Trường ĐHYD. Cỡ mẫu tính với công thức [1]:
Anh, 82% trẻ vị thành niên ở Hải Phòng cho rằng trinh tiết rất quan trọng, 60% cho rằng không nên có quan hệ tình dục trước hôn nhân [7].
n = { Z1 - α⁄2 √¯2P2 (1-P2) + Z1 - ß/2 √¯[P1(1- P1) + P2(1-P2)] /(P1 -P2)2
Vấn đề giáo dục và trình độ học vấn có liên quan đến thái độ và hành vi tình dục ở tuổi vị thành niên. Theo Jessor, Berenson (1997) trình độ học vấn càng cao và mục tiêu học tập càng rõ ràng thì thời điểm có QHTD lần đầu càng trì hoãn ở cả nam lẫn nữ [8]. Bên cạnh đó, bạn bè và các hành vi về hoạt động tình dục của bạn bè có sự tác động lớn đến việc có quan hệ tình dục ở trẻ tuổi vị thành niên[10]. Môi trường gia đình không chỉ ảnh hưởng đến học vấn mà còn ảnh hưởng đến việc có hành vi QHTD ở tuổi vị thành niên. Đã có nghiên cứu ghi nhận các trẻ nữ trong những gia đình thiếu cha hoặc thiếu mẹ có nhiều nguy cơ có hành vi QHTD ở tuổi vị thành niên nhiều hơn những trẻ trong những gia đình có đầy đủ cả cha lẫn mẹ[9]. Ngoài ra, điều kiện kinh tế gia đình cũng ảnh hưởng hành vi QHTD ở lứa tuổi vị thành niên. Những trẻ vị thành niên trong những gia đình có điều kiện kinh tế gia đình khá giả, mức sống cao càng dễ có điều kiện để trẻ tiếp xúc với sách báo và các phương tiện giải trí liên quan đến hoạt động tình dục sớm hơn các trẻ sống trong các gia đình có mức sống thấp, thiếu thốn các phương tiện giải trí. Do vậy điều đó dễ dàng ảnh hưởng đến thái độ chấp nhận và có hành vi QHTD [13]. Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện một nghiên cứu bệnh chứng tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 11/2001 - 12/2002 với mục tiêu "Xác định mối liên quan của một số yếu tố với hành vi QHTD ở nữ sinh cấp 3".
2. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: là nghiên cứu bệnh chứng. Đối tượng nghiên cứu: Nhóm bệnh là nữ, đang học cấp 3, cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh, Cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi nhóm là 80. Như vậy số mẫu cần là 160 trường hợp. Chọn mẫu: chọn mẫu được thực hiện theo cách ngẫu nhiên tại các địa điểm thu thập số liệu. Tuần đầu nhóm bệnh sẽ được thu nhận vào các ngày thứ 2, 4, 6 trong tuần và nhóm chứng thu nhận vào các ngày thứ 3, 5, 7. Tuần kế thực hiện ngược lại cho tới khi kết thúc. Tiêu chuẩn thu nhận: Tất cả đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu và sống ở TP Hồ Chí Minh. Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng thuộc diện nghiên cứu mà không đồng ý tham gia nghiên cứu và không sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Số liệu thu thập với bảng câu hỏi. Bảng câu hỏi ở 2 nhóm đối tượng trong nghiên cứu đều không ghi họ tên để đảm bảo sự bí mật cá nhân, tính khách quan và trung thực cho câu trả lời. Bộ câu hỏi gồm các nội dung sau: 1) Các thông tin cá nhân: Tuổi, giới tính, tôn giáo, nơi cư trú và mức sống gia đình[5] (chia 3 mức: Kém khi thu nhập bình quân /người trong hộ 860 ngàn đồng/ tháng). 2) Các yếu tố: Tuổi có kinh lần đầu, hệ học (công lập, bán công hay dân lập), có bạn thân đã có QHTD, có người yêu, mức học lực, thời gian rảnh rỗi trong ngày, tiếp xúc văn hoá phẩm liên quan tình dục, quan tâm của cha mẹ (thời gian tiếp xúc với cha mẹ trong ngày), tình trạng hôn nhân của cha mẹ. Phương pháp phân tích: dùng Stata 6.0, phân tích đơn biến tỷ suất chênh từng yếu tố ảnh hưởng hành vi QHTD ở nữ học sinh cấp 3 và phân tích hồi quy đa biến tỷ suất chênh các yếu tố.
3. Kết quả nghiên cứu
![]() ![]()
![]()
|
||||
| Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:47 |
- Thông tin Y tế công cộng quốc tế (Tổng hợp từ TTXVN, Vnexpress, Vietnamnet)
- Tin hoạt động Hội Y tế công cộng Việt Nam
- Thông tin thường kỳ về phòng chống tác hại thuốc lá (PCTHTL)
- Nghiên cứu sinh thái về một số đặc điểm của xã đến bệnh mắt hột hoạt tính ở trẻ em
- Xây dựng mô hình cộng đồng sử dụng an toàn thuốc bảo vệ thực vật tại một huyện đồng bằng và một huyện miền núi phía Bắc
- Phân tích tình hình phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong lĩnh vực y tế ở Hà Nội, Việt Nam
- Tăng cường tiếp cận thuốc điều trị AIDS ở Việt Nam: Các khía cạnh về xã hội và y tế
- Phá thai bằng thuốc: Khả năng chấp nhận của phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh
- Yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3 tại thành phố Hồ Chí Minh
- Hành vi tìm kiếm các hình thức khám chữa bệnh viêm đường sinh dục của phụ nữ tại Chí Linh, Hải Dương













