Menu chính
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Tạp chí |
| Hội nghị hàng năm |
| Các chương trình |
| Tài liệu |
| Thư viện |
| Liên kết |
| Liên hệ |
| Diễn đàn |
Polls
Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.| Dịch tễ học chấn thương do bỏng ở bệnh nhân nhập viện điều trị tại tỉnh Daklak 1998 - 2002 | PDF. |
| Viết bởi ThS. Thái Quang Hùng | |
| Thứ sáu, 09 Tháng 10 2009 18:00 | |
|
Tóm tắt Nghiên cứu chấn thương do bỏng này đã được tiến hành ở những bệnh nhân bị bỏng nhập bệnh viện đa khoa tỉnh Daklak trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2002. Thông tin từ bệnh án được thu thập qua một biểu mẫu soạn sẵn, bao gồm các mục: tuổi, giới, ngày, mùa, tháng trong năm, hoàn cảnh xảy ra bỏng, nguyên nhân của bỏng, diện tích bỏng, mức độ trầm trọng của bỏng, số ngày điều trị. Kết quả cho thấy tỷ suất mắc chấn thương do bỏng là 9.6/10-5 người-năm; 50% những ca bỏng là dưới 4 tuổi, nam bị bỏng nhiều hơn nữ; bỏng xuất hiện rãi rác trong năm, hơn 95% các ca bỏng xảy ra tại nhà hoặc xung quanh nhà. Nguyên nhân hàng đầu gây bỏng là nước nóng (63.4%), tiếp đến là các chất có thể gây cháy nổ như xăng, dầu (20.4%). Hầu hết các ca bỏng là do không chủ định (99%). Có sự tương quan giữa diện tích bỏng và kết quả điều trị (p<0.001).Thời gian nằm điều trị tại viện thay đổi từ dưới 1 ngày đến 95 ngày, trung bình là 8 ngày. Cần tăng cường truyền thông giáo dục cho các bậc cha mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ ở tại gia đình về nguy cơ và cách đề phòng cháy bỏng cũng như cách sơ cứu ngay khi bỏng xảy ra. Truyền thanh và truyền hình có thể là những phương tiện truyền thông thích hợp ở vùng này. Abstract A retrospective study was carried out on 893 burn patients hospitalized in DakLak Provincial General Hospital during 1998-2002. Information from case records was collected through a structured form which includes the following items: age, sex, day/month/season in a year; circumstance of burn occurrence, causes of burn, body surface area of burn, level of burn severity, length of hospital stay. Study findings are summarized as follows: the burn injury rate was 9.6/10-5 persons-year; children under 4 years of age occupied 50% of cases; burns were found more in males than in females; burn injury incidence was sporadically found throughout the year; and over 95% of burn injury cases occurred at or around homes. The most common cause of burn injury was hot liquid (63.4%), fol- lowed by combustible substances like petrol and oil (20.4%). Almost all burn injury cases were unin- tentional (99%). There was a correlation between body surface area burnt and the treatment's results (p<0.001). The length of hospital stay varied from less than 1 day to 95 days, with an average length of 8 days. In order to reduce the burn injury rate, it is necessary to strengthen information, educa- tion and communication activities targeting children's parents or care-takers on burn injury pre- vention as well as first-aid treatment immediately after the events. Television and radio could be appropriate communication facilities for that purpose in this geographical area.
1. Đặt vấn đề Theo Tổ chức y tế thế giới, bỏng đã gây ra gần 300.000 trường hợp tử vong hàng năm trên thế giới và là nguyên nhân đứng hàng thứ chín trong số các nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật và chấn thương toàn cầu ở nhóm trẻ từ 5-14 tuổi. Phần lớn các trường hợp tử vong do bỏng xảy ra ở các nước đang phát triển2. Ở Việt Nam, theo báo cáo về chấn thương liên trường, tỷ suất chấn thương do bỏng ở trẻ em là 201/100.000, đứng hàng thứ năm trong số các nguyên nhân gây chấn thương hàng đầu và không có trường hợp nào trầm trọng đến mức tử vong 2. Tại tỉnh Dak Lak, theo báo cáo của bệnh viện đa khoa tỉnh, thì hàng năm có khoảng 120 bệnh nhân bỏng nằm điều trị tại đây và khoảng 1% tử vong do bỏng. Như vậy, tử vong do bỏng vẫn chiếm một phần đáng kể mà nghiên cứu chấn thương dựa vào cộng đồng đã bỏ sót. Mặc dù tỷ suất tử vong do bỏng là thấp, nhưng những thương tổn về mặt thực thể (sẹo, giảm chức năng vận động ...), tâm lý và xã hội do chấn thương bỏng lên bản thân người bị bỏng và gia đình của họ không phải là nhỏ. Hơn nữa, gánh nặng về tài chính cho việc chữa chạy chấn thương do bỏng cũng khá lớn. Mục tiêu đề tài là ước tính tỷ suất mắc chấn thương bỏng, mô tả các đặc điểm về tuổi, giới, thời gian, không gian, nguyên nhân, mức độ trầm trọng của bỏng, thời gian nằm viện và ước tính gánh nặng chi phí; từ đó có những khuyến nghị cho công tác phòng chống chấn thương bỏng cho tỉnh Daklak.
2. Phương pháp Bệnh viện đa khoa tỉnh Daklak là một bệnh viện có nhiều khoa phòng, trong đó có phòng điều trị bỏng thuộc khoa ngoại của bệnh viện. Phòng điều trị bỏng là cơ sở duy nhất của tỉnh Daklak có 10 giường bệnh và các bác sĩ chuyên khoa bỏng làm việc. Do đó đây là nơi tiếp nhận và điều trị bỏng chủ yếu cho toàn thể dân số tỉnh DakLak (dân số toàn tỉnh năm 2002 là 2.003.520 người) Toàn bộ bệnh án về bệnh nhân bị bỏng nhập viện điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh DakLak trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2002 (5 năm) được sử dụng để khai thác thông tin. Thông tin từ bệnh án sẽ được thu thập qua một biểu mẫu soạn sẵn, bao gồm các mục: tuổi, giới, ngày, mùa, tháng trong năm, hoàn cảnh xảy ra bỏng, nguyên nhân của bỏng, diện tích bỏng, mức độ trầm trọng của bỏng, số ngày điều trị . Số liệu về dân số tỉnh DakLak từ các năm tương ứng (1998 đến 2002) cũng được thu thập từ Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh để ước tính các tỷ suất mắc bỏng. Tỷ suất mắc bỏng trong khoảng 5 năm (1998-2002) được tính như sau: Tỷ suất mắc bỏng = tổng số ca bỏng trong thời gian 5 năm / tổng thời gian nguy cơ (người-năm); trong đó tổng thời gian nguy cơ = [(dân số 1998 + dân số 2002) / 2 ] * 5 năm theo dõi. Tỷ suất mắc bỏng theo giới và nhóm tuổi sẽ được tính tương tự. Số liệu được nhập và xử lý theo phần mềm EPI-INFO.
3. Kết quả nghiên cứu Tỷ suất mắc chấn thương do bỏng trung bình hàng năm trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2002 là: 9,6/10-5 người-năm. (893 trường hợp bỏng nhập viện điều trị tại bệnh viện tỉnh Daklak, với dân số trung bình trong thời gian này là 1.853.422, tổng thời gian nguy cơ trong 5 năm sẽ là: 1.853.422 x 5 = 9.627.110 người -năm). Tỷ suất mắc chấn thương do bỏng theo các năm là: 9,1/105 người - năm (1998); 8,9/105 người- năm (1999); 10,4/105 người- năm (2000); 9,7/105 người- năm (2001) và 9,7/105 người - năm (2002) Tỷ suất tử vong so với trường hợp bỏng được ước tính là 2,7% (CI 95%: 1,5% - 3,9%). Trong số 893 các ca bỏng nhập viện có 24 trường hợp tử vong. Theo giới tính, trong số 893 trường hợp bỏng nhập viện, nam bị bỏng chiếm tỷ lệ khá cao (61,7%), tỷ số nam: nữ là 1,6 : 1. Tỷ suất chấn thương do bỏng ở nam là 11.7/105 người- năm, và ở nữ là 7.5/105 người - năm (p < 0.001) Theo tuổi, tuổi trung bình bị bỏng trong số 893 trường hợp là 12, tuổi trung vị là 3. Kết quả này cho thấy đa số các trường hợp bị chấn thương do bỏng xảy ra ở trẻ em. Khoảng 50% trường hợp bỏng dưới 4 tuổi, và số trường hợp bỏng xảy ra nhiều nhất ở trẻ dưới 1 tuổi. So với dân số tham khảo của Daklak, tỷ suất chấn thương do bỏng ở các nhóm tuổi như sau: ở nhóm tuổi 0-9 là 21.3/105 người- năm; ở nhóm tuổi 10-19 là 3.9/105 người- năm; ở nhóm tuổi 20- 29 là 5.9/105 người- năm; ở nhóm tuổi 30-39 là 5.0/105 người- năm; ở nhóm tuổi 40-49 là 4.5/105 người- năm; ở nhóm tuổi 50-59 là 6.1/105 người- năm; ở nhóm tuổi 60-69 là 3.0/105 người- năm; ở nhóm tuổi 70-79 là 2.2/105 người- năm; ở nhóm tuổi 80 là 7.3/105 người-năm. Nhóm tuổi dưới 10 là nhóm có tần số bị bỏng cao nhất (65,1%). ở các nhóm tuổi, giới nam thường bị bỏng nhiều hơn nữ. Theo nghề nghiệp, bỏng chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi nhỏ (chưa đi học hoặc đang đi học). Ngoài ra, những người làm nghề nông cũng chiếm một phần đáng kể trong sự phân bố các ca bỏng. Thời gian xảy ra bỏng rải rác theo các tháng trong năm, chưa thấy có khuynh hướng chấn thương bỏng xảy ra tập trung theo một tháng, hoặc mùa nào đặc biệt trong năm. Hoàn cảnh xảy ra bỏng: Hơn 95% trường hợp bỏng xảy ra ở trong nhà và xung quanh nhà. Tác nhân gây bỏng hàng đầu gây bỏng là do nước nóng (63.4%), sau đó là do các chất có thể gây cháy nổ như xăng, dầu (20.4%) và do lửa than, củi... chiếm vị trí thứ 3 là 5.9% Tác nhân gây bỏng và hoàn cảnh xảy ra bỏng ở kết quả cho thấy, bỏng xảy ra do những bất cẩn trong sinh hoạt tại gia đình... Hầu hết các ca bỏng là do không chủ định (99%) và chỉ 1% là có chủ định (có thể tự mình hoặc do người khác gây ra). Diện tích bỏng: trong tổng số 877 bệnh nhân có thông tin về diện tích bỏng, diện tích bỏng trung bình là 18%, 50% các ca bỏng có diện tích bỏng dưới 13% (trung vị: 13) và diện tích bỏng 10% là chủ yếu (một: 10), diện tích bỏng thay đổi từ 1% đến 95% . Số còn lại không có thông tin về diện tích bỏng là những trường hợp bỏng đường tiêu hoá (trong đó có 1 ca tử vong), và 3 ca bỏng giác mạc. Không có sự khác biệt diện tích bị bỏng giữa nam và nữ (nam có trung bình là 17.6%, trung vị là 13%, tương ứng với nữ là 17.6% và 13%, với p > 0.05). Sự khác biệt rất lớn giữa diện tích bỏng và kết quả điều trị, diện tích bỏng càng lớn, bệnh càng trầm trọng, kết quả điều trị càng kém (p < 0.0001). Khi phân diện tích bỏng (%)theo nhóm với khoảng cách là 10, thì hầu hết diện tích bỏng thuộc nhóm 0-9% (31.7%) và 10-19% (31.9%). Kết quả điều trị: khoảng 10% số bệnh nhân được cho là khỏi khi xuất viện, số còn lại khoảng 90% là những bệnh nhân đỡ, giảm, tình trạng bệnh không thay đổi, nặng hơn và tử vong. Có 24 ca tử vong trong số 893 ca bỏng nhập viện điều trị, tỷ suất tử vong do bỏng là 2,7%. Số ngày điều trị:Trong tổng số 893 bệnh nhân, số ngày nhập viện trung bình là 8 ngày, 50% số ca nằm viện dưới 5 ngày và đa số nằm viện trong vòng 1 ngày (mốt) và thời gian nằm viện thay đổi từ dưới 1 ngày đến 95 ngày. Chi phí trung bình của một ca bỏng: Có 712 bệnh nhân có thông tin về chi phí cho điều trị (số còn lại là các đối tượng miễn viện phí), thì chi phí trung bình cho một ca bỏng là 362.000 đồng, trung vị là 200.000 đồng, tối thiểu là 20.000 đồng và tối đa là 7.000.000 đồng.
4. Bàn luận Số liệu nghiên cứu Số liệu được thu thập từ bệnh viện đa khoa tỉnh Daklak, là cơ sở y tế duy nhất trong toàn tỉnh có phòng điều trị chấn thương do bỏng. Do đây là số liệu hồi cứu, được thu thập từ hồ sơ bệnh án các bệnh nhân nhập viện nên có những hạn chế khó tránh khỏi: - Không phải tất cả các trường hợp bỏng đều vào bệnh viện để điều trị, các ca nhẹ có thể sẽ đến khám và điều trị ở y tế tư nhân, hoặc đến khám tại bệnh viện nhưng sau khi sơ cứu được cho về không phải nhập viện nên sẽ thiếu thông tin ở đối tượng này. - Daklak là một tỉnh có diện tích rất rộng, do vậy có những huyện thuộc tỉnh DakLak, nhưng khoảng cách từ huyện đó đến bệnh viện đa khoa tỉnh DakLak còn xa hơn đến các cơ sở y tế ở tỉnh khác (ví dụ như huyện Ea H'Leo giáp tỉnh Gia Lai, huyện Mdrăk giáp tỉnh Khánh Hoà, huyện Dak Nông, Dak Rlăp giáp Bình Dương hoặc thành phố Hồ Chí Minh). Do thuận tiện trong việc đi lại, các bệnh nhân bỏng ở các huyện này có thể đến khám và điều trị tại những cơ sở y tế của tỉnh khác. - Những lý do trên làm cho số liệu thu thập từ Bệnh viện tỉnh có thể ít hơn so với thựctế, dẫn đến ước tính thấp hơn về tỷ suất mắc chấn thương do bỏng. Điều này có thể được giải thích cho tỷ suất chấn thương do bỏng điều tra tại cộng đồng rất cao (VMIS). Đặc điểm dịch tễ học của chấn thương do bỏng Mặc dù nghiên cứu này không được thiết kế để xác định các yếu tố nguy cơ của chấn thương do bỏng, nhưng khi mô tả một số khía cạnh về dịch tễ học như tuổi, giới, nguyên nhân, hoàn cảnh xảy ra... có thể nhận thấy là ở DakLak, hầu hết các ca bỏng đều xảy ra ở trẻ em (với tuổi trung vị là 4), trẻ trai nhiều hơn trẻ gái và xảy ra ngay chính tại nhà của mình. Nguyên nhân chủ yếu gây bỏng là nước nóng và các chất có thể cháy nổ (xăng dầu). Dưới 4 tuổi là lứa tuổi rất hiếu động và chưa nhận thức được những nguy hiểm xung quanh. Kết quả cũng cho thấy nguy cơ tiềm ẩn gây bỏng ở ngay chính căn nhà của trẻ. Đây là mối nguy cơ thật sự của các ca bỏng và điều này hoàn toàn có thể ngăn chặn, hoặc đề phòng được nếu các bậc cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ có những kiến thức nhất định về chấn thương do bỏng. Có thể lồng ghép các thông tin giáo dục sức khỏe về chấn thương nói chung, để làm sao trẻ em có thể an toàn hơn trong chính ngôi nhà của mình.
Hậu quả của chấn thương do bỏng Tỷ lệ chết/mắc (case fatality rate) được ước tính là 2.7%. Dù số tử vong không cao, nhưng cũng đã bổ sung cho thông tin tử vong do bỏng mà nghiên cứu chấn thương tại cộng đồng (VMIS) không phát hiện ra 2. Theo kết quả của một tác giả nước ngoài 3,4, tỷ suất tử vong do bỏng ở những bệnh nhân nhập viện tại Tehran (Iran) là 19.6%, hoặc ở vùng Tây Nam Iran là 34.4%. Sự khác biệt về kết quả điều trị bỏng tại vùng chúng tôi và tại Iran là rất lớn. Tuy nhiên, một trong những lý do giải thích cho sự khác biệt này những bệnh nhân bỏng nặng mới được nhập vào khoa bỏng tại bệnh viện ở Iran. Chúng ta thấy rằng chỉ khoảng 10% bệnh nhân xuất viện được cho là khỏi, số còn lại là giảm bệnh, không thay đổi, nặng hơn và tử vong. Giả sử 50% các trường hợp xuất viện với tình trạng bệnh hoặc không thay đổi hoặc nặng hơn dẫn đến tử vong sau khi về nhà, thì tỷ suất tử vong còn cao hơn, ước tính khoảng 8,2%. Gánh nặng về tài chính do điều trị bỏng theo kết quả là 362.000 đồng /ca bỏng. Đây là chi phí trực tiếp cho điều trị, được kê khai ở cuối bệnh án khi bệnh nhân xuất viện. Chắc chắn rằng đây chỉ là những chi phí tối thiểu, bởi vì bệnh nhân sau khi xuất viện sẽ phải điều trị tại nhà thêm một thời gian nữa (khoảng 90% số bệnh nhân khi xuất viện trong tình trạng cần phải được tiếp tục điều trị). Ngoài ra, trong số những ca bỏng trên sẽ có những trường hợp gây sẹo, co rút làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người bệnh về mặt thẩm mỹ, về mặt chức năng vận động ... sẽ làm chi phí điều trị bỏng tăng lên thêm khi những bệnh nhân này quay trở lại bệnh viện để thực hiện các cuộc phẫu thuật tạo hình. Cách sơ cứu nạn nhân ngay khi bị bỏng ảnh hưởng quan trọng đến mức độ nặng nhẹ của bệnh, và là một thông tin bổ ích trong khi xây dựng nội dung truyền thông giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng, nhưng rất tiếc, do hạn chế của số liệu từ bệnh án nên chúng tôi không có được thông tin này. Tóm lại, qua hồi cứu 893 hồ sơ bệnh án chấn thương do bỏng nhập viện tỉnh DakLak trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2002, và kết hợp với số liệu dân số của tỉnh DakLak, chúng tôi có một số kết luận sau: - Tỷ suất mắc chấn thương do bỏng là 9.6/105 người-năm - 50% những ca bỏng là dưới 4 tuổi, Nam bị bỏng nhiều hơn Nữ. - Chấn thương bỏng xuất hiện rải rác trong năm, chưa thấy có khuynh hướng xuất hiện chấn thương bỏng theo tháng. - Hầu hết các ca bỏng xảy ra tại nhà hoặc xung quanh nhà (trên 95%) - Nguyên nhân hàng đầu gây bỏng là nước nóng (63.4%), tiếp đến là các chất có thể gây cháy nổ như xăng, dầu (20.4%). - Khoảng 50% các ca bỏng có diện tích bỏng dưới 13%, hầu hết trường hợp gặp ở diện tích bỏng 10%. Có sự tương quan giữa diện tích bỏng và kết quả điều trị (p<0.001). - Thời gian nằm điều trị tại viện thay đổi từ dưới 1 ngày đến 95 ngày. Trung bình là 8 ngày. - Chi phí trung bình cho một ca bỏng điều trị tại bệnh viện là 362.000 đồng, trung vị là 200.000 đồng, tối thiểu là 20.000 đồng và tối đa là 7.000.000 đồng. Để giảm tỷ suất chấn thương do bỏng cần tăng cường truyền thông giáo dục cho các bậc cha mẹ, hoặc người chăm sóc trẻ ở tại gia đình về nguy cơ và cách đề phòng cháy bỏng. Truyền thanh và truyền hình là những phương tiện truyền thông thích hợp ở vùng này.
Tài liệu tham khảo:
1. Y Ông Niê. Nghiên cứu dịch tễ học và tình hình thu dung điều trị bỏng ở 3 tỉnh Tây Nguyên trong 5 năm (1991-1995). Luận án Thạc sĩ khoa học Y Dược. 1996.
2. Điều tra chấn thương liên trường về chấn thương ở Việt Nam: Chấn thương trẻ em (VMIS). 2003.
3. Mohammad-Reza Panjeshahin. Epidemiology and mor- tality of burns in South West of Iran. 24 May, 2000. From http://www.elsevier.com/locate/burns.elsevier.com/locate/burns.
4. Abdolaziz Rastegar Lari and et al. Epidemiology study of 3341 burn patients during three years in Tehran, Iran. 18 May, 2000. From www.elsevier.com/locate/burns.
|
|
| Cập nhật ngày Thứ hai, 27 Tháng 6 2011 14:05 |
- Tin hoạt động phòng chống chấn thương ở Việt Nam và trên Thế giới
- Tin hoạt động Hội Y tế công cộng Việt Nam
- Thông tin thường kỳ về phòng chống tác hại thuốc lá (PCTHTL)
- Nghiên cứu bệnh chứng về ngộ độc do ăn bánh dày tại xã Hoàng Hoa Thám, Chí Linh, Hải Dương
- Nghiên cứu thí điểm về thái độ của cộng đồng đối với hiện tượng tự tử của thanh thiếu niên tại TP. Hải Phòng, Việt Nam
- Tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp
- Tình hình tai nạn thương tích tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang
- Tình hình tự tử tại TP. Đà Nẵng năm 2004
- Đánh giá và cải thiện môi trường giao thông tại cổng trường: Giải pháp cho các trường học
- Phòng chống tai nạn thương tích ở Việt Nam: Kết quả và những định hướng trong thời gian tới










