English (United Kingdom)
Bảng quảng cáo

Polls

Nội dung của website VPHA
 

Thông báo

Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.

Sự kiện sắp tới

<<  Tháng 5 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Ấn phẩm

an pham
Số lần xem bài viết : 210182
Phòng chống tai nạn thương tích ở Việt Nam: Kết quả và những định hướng trong thời gian tới PDF.   Email
Viết bởi TS. Nguyễn Thị Hồng Tú   
Thứ sáu, 09 Tháng 10 2009 00:47
 Tóm tắt

Tình hình tai nạn thương tích (TNTT) ở Việt Nam là vấn  đề đang được Nhà nước quan tâm. Nghiên cứu chấn thương tại Việt Nam cho biết  tỷ suất  thương tích chung là 5449,7/100.000 dân.  Tỉ suất  tử vong do chấn thương là 88,4/100.000, cao gấp hơn 3 lần so với bệnh truyền  nhiễm  và thấp hơn so với bệnh mạn tính. Từ thực tế tình hình TNTT, ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định  số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng chống TNTT giai đoạn 2001-2010, đánh dấu một bước tiến mới cho các hoạt động phòng chống TNTT tại Việt Nam. Mục tiêu chung của Chính sách  là thực hiện các biện pháp kiên quyết,  kịp thời để từng bước hạn chế những  TNTT, đặc biệt là những   tai nạn nghiêm trọng trong các lĩnh vực: tai nạn giao thông, tai nạn trong trường học, tai nạn tại gia đình và cộng  đồng.  Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển   khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng, nhiệm vụ của ngành như  tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông phòng chống TNTT  hệ thống  cấp cứu, phục hồi chức  năng,  củng  cố hệ thống  giám sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn nghiên  cứu nâng cao hiểu  biết về yếu tố nguy cơ, tuyên truyền  mạnh  mẽ tác động của TNTT đến sức khoẻ cộng đồng và kinh tế... Tiếp tục và đẩy mạnh  những  thành  công trong giai đoạn 2002-2005, ngành Y tế cũng  đã đưa ra định hướng chiến lược cho công tác phòng chống TNTT trong giai đọan 2006-2010 để góp phần đạt mục tiêu chung của Chính sách quốc gia phòng chống TNTT là giảm   tỷ lệ TNTT trên mọi lĩnh vực  của đời sống  xã hội như giao thông, lao động sản xuất, sinh hoạt trong gia đình, nhà trường,  nơi công cộng nhằm đạt hiệu quả tích cực trong việc bảo đảm an toàn  về tính mạng,  tài sản của nhà nước, hạnh  phúc của nhân dân, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội.

 Abstract

Attention has been paid to the issues of accidents and injuries in Viet Nam by the State. Injury study findings show that the general injury rate is 5449.7/100,000 population. The mortality rate from injuries is 88.4/100,000 population, a three-fold in comparison with the mortality rate caused by com- municable diseases, and is lower than the mortality rate caused by chronic diseases. Facing with this situation, Decision No.197/2001/QĐ-TTg approving the National Strategy on the Prevention and Control of Injuries in the 2001-2010  period was promulgated on December 27, 2001 by the Prime Minister to mark a new advance for activities aiming at reducing injury prevalence in Viet Nam. The common goal of this policy is to carry out prompt and harsh measures in reducing injury prevalence gradually, in particular road traffic injuries,school injuries, family and community injuries. In order to implement this national policy, many activities have been undertaken by the health sector in accor- dance to its functions and tasks, such as strengthening information, education and communication; emergency care system and rehabilitation; consolidating injury surveillance system; staffs capacity building in injury prevention; building models of safe community; conducting studies for better understanding on risk factors; promoting understanding of community health and economic impacts caused by injuries. In order to continue gaining and bringing into play achievements recorded dur- ing the 2002-2005 period, the Health sector also defines the strategic orientations for 2006-2010 period with an aim to achieve the general objective of the National Strategy on Injury Prevention and Control: To reduce the injury prevalence rate in all walks of  life such as traffic, labour and pro- duction; household, school and public activities. All will lead to the positive effectiveness that could ensure the safety for peoples life, the States assets, peoples happiness, thus contributing to the sus- tainable development of the national  economy, politics and society.


 

1. Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới và ở  Việt Nam

 

1.1. Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới

Hàng  năm  trên  thế giới đã có ít nhất 5, 5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do tai nạn thương tích (TNTT). Đây   là nguyên nhân xếp hàng  thứ 4 trong 10 nguyên  nhân gây tử vong nhiều nhất. Ở  nhiều  nước,  số người  bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% so với tổng số bệnh  nhân, thiệt hại ước tính hàng   ngàn   tỷ USD, chiếm 5-6% tổng thu nhập  quốc  dân (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới 1993). Dự báo đến năm 2020, số người  bị TNTT mỗi  năm  sẽ tăng  thêm  20%. Tai nạn giao thông luôn chiếm tỷ lệ  cao nhất trong tổng  số các trường  hợp  TNTT.  Hàng   năm,   trên   thế  giới  có khoảng 700.000 người  chết và 10.000.000 người bị thương vì tai nạn giao thông gây thiệt hại ước tính hàng trăm tỷ  USD. Sau tai nạn giao thông   là các thương tích do thảm hoạ thiên tai với số chết  trung bình hàng năm khoảng  128.000 người (riêng châu Á trên 43.000 người). Thiệt hại trong 5 năm  từ 1991 đến 1995 khoảng 440 tỷ USD. Các TNTT trong lao động sản xuất,  thương mại dịch vụ ước tính hàng năm xảy ra 250.000.000 trường hợp, làm 330.000 người  chết gây tổn thất tương đương 4% tổng  sản phẩm  xã hội toàn  cầu.  TNTT trong sinh hoạt gia đình chiếm 30-40%, học đường 10%, hoạt động thể thao 15-20%, hoạt động  văn hoá và các hoạt động vui chơi giải trí 2-4%.

 

1.2. Tình hình tai nạn thương tích tại Việt Nam

Cùng  với quá trình công nghiệp  hoá, hiện đại hoá đất nước,  cơ cấu bệnh  tật tại Việt Nam đã  có nhiều thay đổi. Bệnh mạn tính và TNTT ngày càng tăng trong khi các bệnh  truyền   nhiễm   có xu hướng giảm dần. Số liệu thống kê y tế năm 2002-2003 cho thấy   tỷ lệ tử vong do TNTT tại bệnh viện chiếm khoảng 10%-15% tỷ  lệ  tử  vong chung trong bệnh viện. Theo điều tra y tế quốc  gia 2001-2002, tỷ lệ tử  vong do TNTT chiếm 10,7% trong tổng  số các trường hợp tử vong.

Nghiên  cứu chấn thương tại Việt Nam cũng cho kết  qủa  tương  tự,   tỷ  suất    thương  tích  chung  là 5449,7/100.000 dân.  Tỉ suất  tử vong do chấn thương là  88,4/100.000,  cao gấp  hơn 3 lần  so với bệnh truyền nhiễm và thấp  hơn so với bệnh  mạn tính.

Tuy nhiên  nếu xét về gánh nặng  bệnh  tật thì chấn thương là  nguyên nhân  hàng  đầu gây nên sự mất mát số năm sống tiềm tàng của con người, sau đó là bệnh  mạn tính và bệnh   truyền nhiễm. Trong  5 nguyên  nhân hàng đầu gây tử vong thì tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất  với tỷ suất chấn thương do tai nạn giao thông gây tử  vong là 26,7/100.000 dân. Tổng số tử vong do tai nạn giao thông trên thực tế có thể  cao hơn các con số thu được trong báo cáo định kỳ (cùng  năm  đó) khoảng   50%. Sau tai nạn giao thông,  đuối nước là  nguyên nhân đứng hàng thứ  2  gây   tử  vong     Việt  Nam  (với   tỷ  suất    là 23,4/100.000 dân)   và là nguyên  nhân gây tử  vong hàng đầu ở  trẻ em dưới 15 tuổi. Các nguyên  nhân gây  tử vong khác như ngã, ngộ độc, tai nạn lao động cũng cần được quan tâm.

2. Thực hiện chính sách quốc gia phòng chống tai nạn thương tích của ngành  y tế

Từ  thực tế  tình hình TNTT, ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng chống TNTT giai đoạn 2001-2010, đánh dấu một bước tiến mới cho các hoạt động phòng chống TNTT tại Việt Nam.

Mục tiêu chung của chính sách là thực hiện các biện pháp kiên quyết, kịp  thời để từng  bước hạn chế những TNTT, đặc biệt  là những tai nạnnghiêm trọng trong  các   lĩnh vực: tai  nạn giao  thông (TNGT), tai nạn trong trường học  và tai nạn tại cộng đồng  và gia đình. Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2010 so với năm  2000 đã được nêu  rõ như sau: số vụ tai nạn trong học  đường  giảm 40%, trong lao động  sản xuất giảm  30%, trong gia đình và cộng đồng  giảm  30%, số người   chết  do TNGT giảm xuống  còn 9 người /10.000 phương tiện giao thông. Các đối tượng  cần tập trung tác động là: người  tham gia giao thông, người đang làm việc,  trẻ em dưới 18 tuổi và các nhóm người  dễ bị thương tổn như phụ nữ, người  già và người  nghèo. Các lĩnh vực ưu tiên là TNGT (tập trung vào giao thông đường bộ), tai nạn lao động, tai nạn tại trường  học, tai nạn tại cộng  đồng  và gia đình.

Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng,  nhiệm vụ  của  ngành:tăng  cường  hệ thống  cấp cứu, phục hồi  chức  năng,   củng  cố hệ thống  giám  sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, nghiên  cứu nâng cao hiểu biết về yếu  tố nguy cơ, tuyên truyền mạnh mẽ tác động của TNTT đến sức khoẻ cộng đồng và kinh tế.

2.1.  Tổ chức,  quản  lý, chỉ đạo  thực hiện

Ban Chỉ  đạo phòng chống  TNTT ngành y tế được thành  lập năm 2003 theo quyết định của  Bộ trưởng  Bộ Y tế tiếp tục được  củng cố và tăng cường chỉ  đạo ngành thực hiện hoạt động phòng  chống TNTT.  Kế  hoạch phòng  chống  TNTT giai  đoạn 2003-2005 đã  được lãnh đạo Bộ phê  duyệt và kế hoạch cụ thể hàng năm đã được xây dựng.

Công tác phòng chống TNTT cũng  là một chỉ số về tuyên truyền phòng chống TNTT trong các chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 được ban hành trong Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 7 tháng 2 năm 2002 của Bộ trưởng  Bộ Y tế.  Phòng chống TNTT là một  trong các tiêu  chí đối  với gia đình văn hoá sức khoẻ,  khu phố văn hoá sức khoẻ, làng văn hoá sức khoẻ được ban hành tại Thông tư số  02/2003/TT-BYT ngày 28 tháng 3 năm 2003 của Bộ Y tế hướng  dẫn thực hiện chương trình phối hợp hoạt động đẩy mạnh.

Bộ Y tế cũng  đã ban hành Hướng dẫn xây dựng cộng đồng an tòan, phòng chống TNTT tại Quyết định số 170/QĐ-BYT ngày 17 tháng 1 năm 2006.

2.2.  Hoạt động Thông tin -Giáo dục - Truyền thông Phòng chống TNTT

Các hoạt động truyền  thông giáo dục về phòng chống TNTT đã được  tăng cường thông qua các tuần lễ hoặc tháng  tuyên  truyền  được tổ chức  hàng  năm như:  Tuần  lễ An toàn  vệ sinh Lao động  và phòng chống  cháy nổ vào tháng 3, Tháng hành động vì an toàn  vệ sinh thực phẩm  vào tháng  5. Nhiều hoạt động hưởng  ứng Ngày Sức khoẻ thế giới năm 2004 với chủ đề an toàn giao thông  đã được tổ chức  tại các tỉnh  thành  lớn của cả nước  như: họp báo, mit- tinh, diễu hành, tuyên truyền trên đường phố.

Hệ thống truyền thông đại chúng (Truyền  hình Việt Nam VTV1, VTV2; Đài tiếng  nói Việt  Nam; các  báo)  cũng  đã tham gia tích cực tuyên truyền phòng chống TNTT cho cộng đồng.  Để thông  báo và chia sẻ thông  tin về các hoạt động phòng chống TNTT giữa  các Bộ ngành   và địa phương "Tờ  tin phòng chống TNTT" đã được  xuất bản 6 tháng /lần. Thông tin tuyên truyền  trên các báo cũng được đẩy mạnh. Số báo  chuyên đề phòng chống  TNTTcủa Báo Sức khoẻ  và đời sống  cũng  đã được phát hành rộng rãi. Các báo lớn đều có chuyên   mục  về phòng chống TNTT. Bản tin làng văn hoá sức khoẻ  cũng được cập nhật các thông tin về phòng chống TNTT, xây dựng cộng đồng an toàn (CĐAT).

Hoạt động truyền  thông bằng các hình thức  tờ rơi, áp phích, pano, băng rôn luôn được đẩy mạnh. Hơn 30.000 tờ rơi các loại, trên 10.000 tranh truyện, lịch, tờ  rơi, áp phích về phòng  chống  TNTT trong lao động, giao thông, trong sinh hoạt và nhà trường đã được  in ấn và phân  phối cho các tỉnh.  Cuốn bảng kiểm xây dựng CĐAT bằng hình ảnh đã được in ấn với số lượng trên 4.000 cuốn. Trang web về TNTT đã hoàn chỉnh  bản tiếng  Việt và tiếng  Anh, hiện  đã kết  nối với trang web của  Bộ Y tế để  có thể  phổ biến thông tin, tài liệu đến mọi đối tượng  trong nước và ngoài nước (địa chỉ truy cập: www.moh.gov.vn/Tainanthuongtich).

Phát động các cuộc thi tìm hiểu về phòng chống TNTT/xây dựng CĐAT, thiết  kế trang thiết  bị an toàn. Biểu  tượng CĐAT Việt  Nam đã  được xây dựng và đang hoàn thiện để chính thức  sử dụng cho các  hoạt động  xây dựng CĐAT, các  địa phương cũng  đã thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền phổ biến  kiến  thức về phòng  chống  TNTT trong trường  học và trong gia đình.

2.3. Tăng cường  giám sát TNTT các tuyến:

Bộ Y tế bắt đầu  triển  khai việc  lồng  ghép  hệ thống giám sát, báo cáo, thống kê TNTT vào trong hệ thống  báo cáo thống  kê chung của ngành y tế từ năm 2003. Tất cả các trường   hợp  TNTT được thu thập  từ trạm y tế xã hàng tháng  và báo cáo lên tuyến huyện,  tỉnh hàng quý. Bộ Y tế đã nhận  được  báo cáo TNTT 12 tháng năm 2004 của 49/64 tỉnh, thành  và báo cáo 6 tháng đầu năm 2005 của 41/64 tỉnh thành. Phần  mềm  vào số liệu,  phân  tích và báo cáo cũng đã được  hoàn thiện  để hỗ trợ cho công tác thống  kê tại các tuyến.

Xây dựng bộ công  cụ điều  tra hộ gia đình quy mô tỉnh về tình hình TNTT và kiến  thức của người dân  để  hỗ trợ  các  địa phương trong việc  lập  kế họach phòng chống TNTT có hiệu  qủa.  Việc  điều tra đã  được thực hiện  tại  Hải Dương, Hưng Yên năm 2003-2004 và đang được triển khai tại Huế và Long An.

Bắt đầu triển khai giám sát TNTT tại bệnh viện. Hiện đang trong giai đoạn thí điểm triển khai tại 7 bệnh  viện của 3 tỉnh  là Hà Nội,  Hồ  Chí Minh và Ninh Bình. Giám  sát TNTT trẻ em tại 2 bệnh viện Nhi của Hải Phòng  và Cần Thơ. Hệ thống  giám sát TNTT tại bệnh viện cho phép cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố liên quan đến TNTT của tất cả các trường hợp thương tích đến bệnh viện.

2.4. Xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn

* Xây dựng CĐAT lồng ghép trong phong trào làng Văn hoá -Sức khoẻ.

Thực hiện  Chỉ  thị  của Bộ trưởng   Bộ Y tế  về thực hiện  phong  trào  làng  Văn  hoá  -Sức  khoẻ (VHSK), Bộ đã có Thông   tư hướng dẫn ngành y tế toàn quốc triển khai xây dựng thực hiện tiêu chí gia đình, ấp, làng, xã, phường  VHSK trong đó có tiêu chí về CĐAT. Đã tổ chức  biên  soạn, in ấn và phân phối trong toàn quốc Hướng  dẫn xây dựng CĐAT theo hướng  tiếp cận mới huy động người dân tham gia có thể kiểm  soát được tốc độ TNTT gia tăng  và giải quyết  các vấn đề về an toàn cộng đồng không thể giải quyết theo phương pháp thông thường  từ trên xuống.  Với sự hỗ trợ của Chương trình Hợp tác Y tế Việt  Nam-Thuỵ  Điển,  Bộ Y tế  đang chỉ đạo xây dựng mô hình điểm CĐAT tại Hà Nội và Hưng Yên  để có thể nhân  rộng  ra các  tỉnh  khác   từ 2005 và có thể  tham gia mạng lưới CĐAT quốc  tế vào năm 2006.

* Hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ em tập trung cho các hoạt động nâng cao năng lực cho các tuyến về phòng chống TNTT cho trẻ. Phòng chống đuối nước, bỏng, ngộ độc ở  trẻ em. Các tiêu chí an toàn cho trẻ trong gia đình, trường học, cộng đồng cũng đã được  xây dựng.  Các can thiệp phòng chống đuối nước trong cộng đồng đã từng bước được triển khai bao gồm: chương trình tập  bơi trong trường học, cộng đồng. Xây dựng hỗ trợ bể bơi, rào ao hồ, xây cầu qua kênh rạch.... Phòng chống TNTT trong trường  học  bằng  kiên  cố hóa trường  lớp, sân chơi, củng cố đường  giao thông, nơi tập luyện  thể thao.

2.5. Hoạt động sơ cứu, cấp cứu, phục hồi chức năng do TNTT

Nhận thức cấp cứu TNTT ngày càng trở nên cấp bách,  năm 2005 ngành y tế  đã  tập  trung chỉ  đạo thực hiện nhiều hoạt động  củng  cố và tăng  cường mạng lưới cấp cứu TNTT nhằm nhanh chóng tiếp cận, cứu chữa kịp thời, hiệu quả cho nạn nhân, làm giảm   tỷ lệ tử vong, hạn chế hậu quả, di chứng   và giảm chi phí cho người  bệnh  và xã hội.

Cơ sở cấp cứu tuyến  huyện,  tỉnh được củng  cố và tăng  cường  nhân  lực,  trang bị phục vụ cấp cứu như máy tạo ô  xy, siêu âm, chụp X-quang, thuốc, máu, dịch truyền để có thể xử lý tại  chỗ hầu  hết các chấn thương: cấp cứu truyền  máu, kỹ thuật  cấp cứu đa chấn thương, phẫu thuật cấp cứu... Do đó nhiều tỉnh  đã cứu sống  hàng  nghìn nạn nhân TNTT mà những  năm  trước phải chuyển tuyến Trung ương hoặc tử vong.

Các địa phương dọc  đường   quốc   lộ, tỉnh  lộ đã đầu tư nhân lực, trang bị, kinh phí phục vụ sơ cứu do giao thông.    Có tỉnh  đã tổ chức  nhiều   đội  "tình nguyện  viên cấp cứu” là hội viên  CTĐ, cựu chiến binh thực hiện sơ cấp cứu cho hầu hết các trường hợp  bị TNTT do giao thông.  Xây dựng các  đề  án tăng cường sơ cứu và vận chuyển   cấp cứu, các danh mục chuẩn cho các tuyến  về trang thiết bị và nhân lực cần thiết cho cấp cứu chấn thương.    Tiến hành điều tra thực trạng dịch vụ cấp cứu, phục hồi chức năng tại 40 xã của  12 huyện ở  7 tỉnh năm 2003 để có số liệu  cơ bản xây dựng mô hình cấp cứu TNTT phù hợp  với đòi hỏi thực tế.

Với sự tham gia, đóng góp của các chuyên   gia đầu ngành về điều trị, cấp cứu, phục hồi chức năng, đã tổ chức  biên  soạn, in, phân phối 1.000 cuốn  tài liệu  Hướng  dẫn thực hành  cấp  cứu TNTT ngoài bệnh viện cho cán bộ y tế cơ sở. Dịch và xuất  bản tài liệu hướng  dẫn chăm  sóc chấn thương thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới. Tài liệu cung cấp những yêu  cầu tối thiểu  về kiến  thức,  kỹ năng  cũng  như trang thiết  bị  và vật  dụng cần thiết  cho công  tác chăm sóc chấn thương tại các cơ sở y tế.

Hướng  dẫn chăm  sóc chấn thương ngoài bệnh viện  của Tổ chức  Y tế thế  giới hiện  nay đã  được dịch sang tiếng Việt và đang được in ấn để phổ biến trong thời gian tới. Đây  là tài liệu giúp xây dựng  và tăng cường  năng  lực cho các hệ thống  chăm  sóc chấn thương tại cộng đồng, ngoài các cơ sở y tế.

2.6. Nâng cao năng lực hoạt động phòng chống TNTT của cán bộ y tế các tuyến

Tổ chức nhiều  lớp đào tạo  nâng  cao năng lực cho cán  bộ y tế về phòng  chống  TNTT thông qua các trường đại học y và các viện  như : dịch tễ học thương tích, giám  sát thương tích, kỹ năng  truyền thông, xây dựng  các mô hình can thiệp phòng chống thương tích tại cộng đồng đặc biệt cho trẻ em. Tổ chức 33 lớp tập huấn  kỹ năng  sơ cấp cứu TNTT cho 1.352 cán bộ y tế tuyến   xã /huyện.

Xây dựng các  tài liệu  phổ  biến  các  kỹ năng phòng chống TNTT phân phát cho các cán bộ làm công tác phòng  chống  TNTT ở  các tuyến  từ  trung ương đến địa phương (hướng  dẫn xây dựng CĐAT, hướng dẫn giám sát, thực hiện công tác truyền thông giáo dục).Các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới về phòng chống TNTT cũng đã kịp  thời dịch ra tiếng Việt  để phổ biến  cho cán  bộ y tế các  tuyến như: Báo cáo toàn  cầu về TNTT giao thông  đường  bộ, Chiến lược 5 năm  của Tổ chức  Y tế thế  giới  về phòng chống TNTT giao thông  đường  bộ, Hướng dẫn giám  sát thương tích, Thương tích  Gánh nặng bệnh  tật toàn cầu, Hướng  dẫn điều tra cộng đồng về  thương tích và  bạo lực,  Hướng  dẫn chăm  sóc chấn thương thiết yếu. Hướng  dẫn chăm  sóc chấn thương chuyên sâu.

 

2.7. Triển khai các hoạt động nghiên  cứu về phòng   chống   TNTT:

Nhiều  nghiên   cứu đã được triển khai thực hiện về các yếu  tố nguy cơ cũng như  tình hình TNTT. Qua tổng kết cho đến nay đã có gần  60 nghiên  cứu từ trên   40 đơn vị về vấn đề thực trạng và công  tác phòng chống TNTT. Các nghiên  cứu tập trung vào 4 chủ đề chính sau:

Nghiên  cứu về TNTT ở trẻ em như tỷ lệ và một số yếu  tố liên  quan đến TNTT ở  trẻ em, đánh  giá kiến  thức  và thực hành  của cộng  đồng  về phòng tránh TNTT trẻ em, giám sát TNTT trẻ em tại bệnh viện, thực trạng về đuối  nước  trẻ em và tình hình chấn thương giao thông  trẻ em. Một số nghiên   cứu về chấn thương giao thông,  cấp cứu và điều trị chấn thương, chấn thương trong sinh hoạt và  lao động, nghiên  cứu về chính sách và giải pháp phòng chống đã  được thực hiện.   Một  hội  nghị toàn  quốc  về nghiên cứu  khoa  học  phòng  chống  chấn  thương cũng đã được  tổ chức tại Hà Nội tháng  11 năm 2005, trên 70 báo cáo khoa học trình bày tại hội nghị là những  kết quả ban đầu cho thấy việc nghiên cứu trong lĩnh vực phòng chống chấn thương đã  được nhiều đơn vị,  tổ chức  quan tâm.

 

2.8.  Hợp  tác quốc tế

Thiết lập mối  quan hệ  với  Trung tâm nghiên cứu thương tích, Trường Đại học Monash, Úc, mời các  chuyên gia  nước  ngoài  từ   trung  tâm  phòng chống  chấn  thương  từ  Úc,   Mỹ,    Thụy Điển   và chuyên gia của  WHO hỗ trợ  xây  dựng hệ thống giám  sát, cấp cứu TNTT, xây dựng kế hoạch v.v.

Cử cán  bộ tham gia các hội thảo  quốc  tế: Hội thảo về phòng chống  TNTT khu vực châu Á  - Thái Bình Dương tại Úc(2003),  Hội thảo phòng  chống TNTT cho trẻ  em tại Băng  Cốc (2002); Hội thảo khu vực  về Cộng  đồng  an toàn tại  Sewon - Hàn Quốc, Hội nghị quốc tế về phòng  chống  thương tích và xây  dựng cộng đồng an toàn tại Viên, Áo 2004, Hội nghị khu vực về cộng đồng an toàn tại Đài Loan (2005...)

 

3.  Thuận  lợi và khó khăn

Kết quả thực hiện chính sách quốc gia về phòng chống TNTT trong thời gian qua có nhiều  thuận  lợi tuy nhiên  cũng  có những  khó khăn,  thách  thức cần phải vượt qua.

 

3.1. Thuận lợi:

- Được sự  quan tâm  chỉ đạo của  Chính phủ, Lãnh  đạo Bộ  Y tế  trong công  tác phòng  chống TNTT.

- Đã có chính sách quốc gia phòng chống TNTT. Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Bộ Y tế và các Bộ/ngành liên quan. Đây  là cơ sở để lập  kế hoạch hành động cụ thể triển khai kế hoạch.

- Các dự án trong nước và quốc  tế liên quan đến phòng chống TNTT đã và đang được triển khai là cơ sở để  rút  ra các bài học  kinh nghiệm khi triển khai rộng công tác phòng  chống  TNTT trong giai đoạn tới.

 

3.2. Khó khăn  và thách  thức

- Tình hình TNTT vẫn tiếp tục gia tăng trong tất cả các lĩnh vực do đô thị hoá mạnh, phát triển mạng lưới giao thông, phương tiện giao thông tăng nhanh, thành  lập nhiều các  cơ sở sản  xuất   ngoài   quốc doanh, hộ sản xuất...

- Công tác phòng chống TNTT chưa được triển khai đồng   bộ từ trung ương đến cơ sở, chưa có một chỉ đạo thống nhất của các ngành, các lĩnh vực cùng tham gia.

- Hoạt động thông tin truyền thông   để xã hội hoá hoạt động phòng chống TNTT chưa sâu rộng trong các đoàn thể và nhân  dân. Các chính sách  và chủ trương phòng chống TNTT quốc gia chưa được phổ biến rộng rãi. Lãnh đạocác cấp chưa nhận thức TNTT là vấn đề sức khoẻ cộng đồng trầm trọng  nên chưa có kế  hoạch kiểm  soát toàn  diện,  cụ thể và hiệu quả, ý  thức người  dân còn hạn chế.

- Hệ thống thông tin giám  sát, báo cáo số liệu TNTT còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh được thực trạng tình hình TNTT.

- Phương tiện sơ cứu,  cấp cứu và vận  chuyển nạn nhân  còn thiếu,  không  đáp ứng được nhu cầu thực tế. Thiếu   cán bộ có kiến  thức và kinh nghiệm trong công tác phòng chống  TNTT.

- Đầu  tư kinh phí các  cấp  cho phòng  chống TNTT khác chưa được đưa vào kế hoạch hàng năm từ Trung ương đến địa phương.

 

4. Một số định  hướng  về chính sách phòng chống TNTT của ngành  y tế trong giai đoạn 2006 - 2010

Tiếp  tục  và đẩy  mạnh những  thành  công trong giai đoạn 2002-2005, ngành Y tế cũng  đã đưa ra định hướng chiến lược cho công tác phòng chống TNTT trong giai đọan 2006-2010 như sau:

 

4.1. Mục tiêu chung

Góp phần đạt mục tiêu chung của Chính sách quốc gia phòng chống TNTT là giảm   tỷ lệ TNTT trên  mọi lĩnh vực   của  đời sống  xã hội  như giao thông, lao động sản xuất, sinh hoạt trong gia đình, nhà trường,  nơi công cộng nhằm đạt hiệu quả tích cực trong việc  bảo đảm an toàn  về tính mạng, tài sản của Nhà  nước,  hạnh phúc  của nhân  dân,  góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội.

 

4.2. Mục  tiêu cụ thể

-  Giảm tỷ lệ  TNTT nặng và  tử vong do TNTT tại cộng đồng.

- Xã hội hoá các hoạt động phòng chống TNTT, tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng chống  TNTT.

- Thiết  lập hệ thống  giám  sát thương tích trên toàn quốc tạo cơ sở cho việc triển khai kế hoạch và đánh giá hoạt động phòng chống TNTT.

- Nâng  cấp hệ thống  sơ cấp  cứu  và phục hồi chức năng tại cộng đồng.

- Triển khai mô  hình cộng đồng an toàn trên phạm vi toàn quốc.

- Nâng cao năng lực phòng chống TNTT cho các cán bộ trong và ngoài  ngành  y tế.

 

4.3. Chỉ tiêu cụ thể đến 2010:

- Hàng năm giảm 10% tỷ lệ thương tích nặng  và tử vong do TNTT tại cộng đồng.

- 100% các tỉnh/thành   phố có Ban chỉ đạo phòng chống TNTT.

- 100% các tỉnh  tổ chức  thông   tin truyền thông tuyên truyền về phòng  chống  TNTT, CĐAT, gia đình và trường  học  an toàn,  về sử dụng thuốc chữa bệnh an toàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng  chống  ngộ độc thức ăn trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- 100% các tỉnh /thành  phố có hệ thống  giám sát thông tin báo cáo số liệu  TNTT sử dụng hệ thống giám  sát hiện  có và phối hợp  các hệ thống  báo cáo của các Bộ/ngành  liên quan.

- 70% tỉnh/thành phố phát triển hệ thống sơ cấp cứu, cấp cứu và phục  hồi chức năng cho tuyến cơ sở.

- 70% tỉnh/thành phố phát triển CĐAT.

- Ít nhất 7 trường  đào tạo y tế có chương trình giảng dạy về phòng chống  TNTT.

 

4.4. Nội dung hoạt động

Về Tổ chức

- Tại tuyến trung ương sẽ củng cố và tăng  cường hoạt động  của Ban  chỉ  đạo phòng  chống  TNTT ngành y tế. tăng cường năng lực hoạt động của Văn phòng thường trực phòng chống TNTT của Bộ Y tế.

- Tại các địa phương sẽ hoàn  thiện   về tổ chức hệ thống   và chỉ đạo công tác phòng  chống  TNTT địa phương. Tăng cường vai trò chỉ đạocủa Ban chỉ đạophòng chống TNTT tuyến tỉnh /huyện. Đưa chỉ tiêu phòng chống TNTT thành  chỉ tiêu pháp lệnh trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của  từng địa phương, có kế hoạch chỉ đạo thực hiện. Ngoài phần kinh phí do trung ương hỗ trợ,  cần  huy động kinh phí đầu tư của địa phương trên phương châm Trung ương và địa phương cùng làm.

Giáo dục truyền thông:

- Xây dựng nội dung truyền thông phòng chống TNTT thường  gặp trong gia đình, cộng đồng như bỏng, đuối nước, điện giật, vệ sinh an toàn trong lao động,  sử dụng thuốc chữa bệnh an toàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,  phòng chống ngộ độc thức ăn trên  các phương tiện thông tin đại chúng thống nhất trong cả nước.

- Đa dạng hoá các loại hình truyền  thông: Đài truyền hình, đài phát  thanh, đài  truyền thanh xã phường,   áp phích, khẩu hiệu, tờ rơi đến từng hộ gia đình, cá nhân.  Truyền   thông  trực tiếp qua cộng  tác viên truyền thông tại cộng đồng.

- Tổ chức tốt các phong trào Tháng An toàn giao thông; Tuần  lễ An toàn - Vệ sinh lao động - Phòng chống cháy nổ; Tháng an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Đưa nội dung phòng chống TNTT vào chương trình học tập của trường  tiểu học và trung học cơ sở của các huyện điểm, tỉnh điểm, tổ chức  thi hiểu biết về phòng  chống  TNTT. Huy động lực lượng giáo viên và học sinh tham gia vào các hoạt động phòng chống TNTT.

- Đào tạo kỹ năng truyền  thông,  vận động xã hội về phòng  chống  TNTT  cho đội ngũ truyền thông các cấp.

- Tăng  cường  củng cố, kiện toàn hệ thống  thu thập, giám sát, phân tích báo  cáo,  xử lý thông tin về TNTT:

- Tập trung xây dựng hệ thống  giám  sát TNTT tại các tỉnh trên cơ sở tăng  cường  hệ thống  giám  sát hiện  có và phối  hợp  các hệ thống  báo cáo của các Bộ/ngành liên quan.

- Tăng  cường  năng  lực giám sát TNTT thông qua tập huấn nâng cao kiến thức cơ bản về TNTT, giám sát TNTT và sử dụng phần mềm cho cán bộ y tế các  tuyến. Đầu tư vi tính hoá  hệ thống   vào  số liệu, báo cáo TNTT cho các tuyến.

- Triển khai giám sát TNTT tại bệnh viện nhằm từng  bước  nâng  cao  chất  lượng chăm   sóc chấn thương tại bệnh  viện và bổ sung thêm thông tin cho công tác phòng  chống.

- Điều tra TNTT tại cộng đồng 5 năm 1 lần để đánh giá xu thế, diễn biễn của tình hình TNTT

- Tăng cường công tác sơ cứu, cấp cứu, phục  hồi chức năng cho tuyến cơ sở.

- Xây dựng các đề án tăng cường  sơ cứu và vận chuyển  cấp cứu, các danh mục chuẩn cho các tuyến về trang thiết  bị và nhân  lực cần thiết  cho cấp cứu TNTT.

- Bổ sung trang thiết bị cấp cứu và đào tạo nâng cao năng lực cấp cứu TNTT cho trạm y tế và cơ sở y tế gần  các  trục đường giao thông  để đảm nhận được vai trò cấp cứu TNTT.

- Phối hợp với Hội chữ thập đỏ Việt Nam đầu tư phát triển  điểm  hệ thống  sơ cứu  và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trong phòng chống TNTT của một số tỉnh /thành  phố. Tăng cường tuyên  truyền cho cộng đồng số điện thoại khẩn cấp khi có TNTT, các địa điểm cấp cứu, điều trị chuyên  khoa.

- Xây dựng hệ thống  GIS thực hiện quản lý xe cấp  cứu và hoạt động vận chuyển   cấp cứu tại một số tỉnh /thành  phố có tỷ lệ TNTT cao. Thí điểm các hình thức vận chuyển cấp cứu khác  ngoài  xe cứu thương. Triển khai hệ thống hỗ trợ chẩn đoán và cấp cứu  từ xa (Telemedicine)  và hỗ trợ triển  khai hoạt động của Trung tâm chống độc quốc gia.

Xây dựng và phát triển cộng đồng an toàn:

- Củng  cố các hoạt động xây dựng CĐAT với các hoạt động phòng chống TNTT toàn diện tại các địa phương đã triển   khai và mở  rộng   ra các  địa phương khác. Từng bước công nhận các CĐAT trên cơ sở công  nhận  gia đình an toàn, trường học an toàn tại từng tỉnh.

- Tăng cường tuyên truyền cho các hoạt động xây dựng CĐAT trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Đào tạo, huấn luyện nâng cao năng lực phòng chống TNTT:

- Xây dựng chương trình đào tạo phòng chống TNTT cho các đối tượng và cho các trường  đào tạo y tế.

- Mở các lớp tập huấn  về giáo  dục  sức khoẻ, truyền thông phòng chống TNTT; về các  chương trình xử lý số liệu thống kê, nối mạng Internet trên máy tính; các lớp học  về phát  hiện,  xử trí sơ cứu, cấp cứu các loại TNTT cho nhân viên y tế phòng khám, phòng cấp cứu, phòng khám đa khoa, bệnh viện, huyện  xã.

Nghiên   cứu và hợp tác quốc  tế

- Đẩy mạnh nghiên  cứu toàn diện và chi tiết về các  yếu  tố nguy cơ của TNTT để xây  dựng chiến lược phòng chống cụ thể

- Xây dựng các trung tâm TNTT tại các bệnh viện đầu ngành  và các bệnh  chuyên   khoa như viện bỏng, bệnh viện chấn thương chỉnh hình.

- Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm  với các  nước   đã có kinh nghiệm trong phòng  chống TNTT.

 

Tác giả:

TS. Nguyễn Thị Hồng 

Phó Cục trưởng Cục y tế Dự phòng  Bộ Y tế

Phó Ban phòng chống tai nạn thương tích ngành y tế

Địa chỉ: 138 Giảng  Võ - Ba Đình - Hà Nội

E.mail: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 


 

Cập nhật ngày Thứ hai, 27 Tháng 6 2011 14:09
 
Các bài viết khác:
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat