Menu chính
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Tạp chí |
| Hội nghị hàng năm |
| Các chương trình |
| Tài liệu |
| Thư viện |
| Liên kết |
| Liên hệ |
| Diễn đàn |
Polls
Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.| Phòng chống tai nạn thương tích ở Việt Nam: Kết quả và những định hướng trong thời gian tới | PDF. |
| Viết bởi TS. Nguyễn Thị Hồng Tú | |
| Thứ sáu, 09 Tháng 10 2009 00:47 | |
|
Tóm tắt Tình hình tai nạn thương tích (TNTT) ở Việt Nam là vấn đề đang được Nhà nước quan tâm. Nghiên cứu chấn thương tại Việt Nam cho biết tỷ suất thương tích chung là 5449,7/100.000 dân. Tỉ suất tử vong do chấn thương là 88,4/100.000, cao gấp hơn 3 lần so với bệnh truyền nhiễm và thấp hơn so với bệnh mạn tính. Từ thực tế tình hình TNTT, ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng chống TNTT giai đoạn 2001-2010, đánh dấu một bước tiến mới cho các hoạt động phòng chống TNTT tại Việt Nam. Mục tiêu chung của Chính sách là thực hiện các biện pháp kiên quyết, kịp thời để từng bước hạn chế những TNTT, đặc biệt là những tai nạn nghiêm trọng trong các lĩnh vực: tai nạn giao thông, tai nạn trong trường học, tai nạn tại gia đình và cộng đồng. Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng, nhiệm vụ của ngành như tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông phòng chống TNTT hệ thống cấp cứu, phục hồi chức năng, củng cố hệ thống giám sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn nghiên cứu nâng cao hiểu biết về yếu tố nguy cơ, tuyên truyền mạnh mẽ tác động của TNTT đến sức khoẻ cộng đồng và kinh tế... Tiếp tục và đẩy mạnh những thành công trong giai đoạn 2002-2005, ngành Y tế cũng đã đưa ra định hướng chiến lược cho công tác phòng chống TNTT trong giai đọan 2006-2010 để góp phần đạt mục tiêu chung của Chính sách quốc gia phòng chống TNTT là giảm tỷ lệ TNTT trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như giao thông, lao động sản xuất, sinh hoạt trong gia đình, nhà trường, nơi công cộng nhằm đạt hiệu quả tích cực trong việc bảo đảm an toàn về tính mạng, tài sản của nhà nước, hạnh phúc của nhân dân, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Abstract Attention has been paid to the issues of accidents and injuries in Viet Nam by the State. Injury study findings show that the general injury rate is 5449.7/100,000 population. The mortality rate from injuries is 88.4/100,000 population, a three-fold in comparison with the mortality rate caused by com- municable diseases, and is lower than the mortality rate caused by chronic diseases. Facing with this situation, Decision No.197/2001/QĐ-TTg approving the National Strategy on the Prevention and Control of Injuries in the 2001-2010 period was promulgated on December 27, 2001 by the Prime Minister to mark a new advance for activities aiming at reducing injury prevalence in Viet Nam. The common goal of this policy is to carry out prompt and harsh measures in reducing injury prevalence gradually, in particular road traffic injuries,school injuries, family and community injuries. In order to implement this national policy, many activities have been undertaken by the health sector in accor- dance to its functions and tasks, such as strengthening information, education and communication; emergency care system and rehabilitation; consolidating injury surveillance system; staffs capacity building in injury prevention; building models of safe community; conducting studies for better understanding on risk factors; promoting understanding of community health and economic impacts caused by injuries. In order to continue gaining and bringing into play achievements recorded dur- ing the 2002-2005 period, the Health sector also defines the strategic orientations for 2006-2010 period with an aim to achieve the general objective of the National Strategy on Injury Prevention and Control: To reduce the injury prevalence rate in all walks of life such as traffic, labour and pro- duction; household, school and public activities. All will lead to the positive effectiveness that could ensure the safety for peoples life, the States assets, peoples happiness, thus contributing to the sus- tainable development of the national economy, politics and society.
1. Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới và ở Việt Nam
1.1. Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới Hàng năm trên thế giới đã có ít nhất 5, 5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do tai nạn thương tích (TNTT). Đây là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 trong 10 nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất. Ở nhiều nước, số người bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% so với tổng số bệnh nhân, thiệt hại ước tính hàng ngàn tỷ USD, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới 1993). Dự báo đến năm 2020, số người bị TNTT mỗi năm sẽ tăng thêm 20%. Tai nạn giao thông luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số các trường hợp TNTT. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 700.000 người chết và 10.000.000 người bị thương vì tai nạn giao thông gây thiệt hại ước tính hàng trăm tỷ USD. Sau tai nạn giao thông là các thương tích do thảm hoạ thiên tai với số chết trung bình hàng năm khoảng 128.000 người (riêng châu Á trên 43.000 người). Thiệt hại trong 5 năm từ 1991 đến 1995 khoảng 440 tỷ USD. Các TNTT trong lao động sản xuất, thương mại dịch vụ ước tính hàng năm xảy ra 250.000.000 trường hợp, làm 330.000 người chết gây tổn thất tương đương 4% tổng sản phẩm xã hội toàn cầu. TNTT trong sinh hoạt gia đình chiếm 30-40%, học đường 10%, hoạt động thể thao 15-20%, hoạt động văn hoá và các hoạt động vui chơi giải trí 2-4%.
1.2. Tình hình tai nạn thương tích tại Việt Nam Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cơ cấu bệnh tật tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Bệnh mạn tính và TNTT ngày càng tăng trong khi các bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm dần. Số liệu thống kê y tế năm 2002-2003 cho thấy tỷ lệ tử vong do TNTT tại bệnh viện chiếm khoảng 10%-15% tỷ lệ tử vong chung trong bệnh viện. Theo điều tra y tế quốc gia 2001-2002, tỷ lệ tử vong do TNTT chiếm 10,7% trong tổng số các trường hợp tử vong. Nghiên cứu chấn thương tại Việt Nam cũng cho kết qủa tương tự, tỷ suất thương tích chung là 5449,7/100.000 dân. Tỉ suất tử vong do chấn thương là 88,4/100.000, cao gấp hơn 3 lần so với bệnh truyền nhiễm và thấp hơn so với bệnh mạn tính. Tuy nhiên nếu xét về gánh nặng bệnh tật thì chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây nên sự mất mát số năm sống tiềm tàng của con người, sau đó là bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm. Trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thì tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ suất chấn thương do tai nạn giao thông gây tử vong là 26,7/100.000 dân. Tổng số tử vong do tai nạn giao thông trên thực tế có thể cao hơn các con số thu được trong báo cáo định kỳ (cùng năm đó) khoảng 50%. Sau tai nạn giao thông, đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây tử vong ở Việt Nam (với tỷ suất là 23,4/100.000 dân) và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 15 tuổi. Các nguyên nhân gây tử vong khác như ngã, ngộ độc, tai nạn lao động cũng cần được quan tâm. 2. Thực hiện chính sách quốc gia phòng chống tai nạn thương tích của ngành y tế Từ thực tế tình hình TNTT, ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng chống TNTT giai đoạn 2001-2010, đánh dấu một bước tiến mới cho các hoạt động phòng chống TNTT tại Việt Nam. Mục tiêu chung của chính sách là thực hiện các biện pháp kiên quyết, kịp thời để từng bước hạn chế những TNTT, đặc biệt là những tai nạnnghiêm trọng trong các lĩnh vực: tai nạn giao thông (TNGT), tai nạn trong trường học và tai nạn tại cộng đồng và gia đình. Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2010 so với năm 2000 đã được nêu rõ như sau: số vụ tai nạn trong học đường giảm 40%, trong lao động sản xuất giảm 30%, trong gia đình và cộng đồng giảm 30%, số người chết do TNGT giảm xuống còn 9 người /10.000 phương tiện giao thông. Các đối tượng cần tập trung tác động là: người tham gia giao thông, người đang làm việc, trẻ em dưới 18 tuổi và các nhóm người dễ bị thương tổn như phụ nữ, người già và người nghèo. Các lĩnh vực ưu tiên là TNGT (tập trung vào giao thông đường bộ), tai nạn lao động, tai nạn tại trường học, tai nạn tại cộng đồng và gia đình. Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng, nhiệm vụ của ngành:tăng cường hệ thống cấp cứu, phục hồi chức năng, củng cố hệ thống giám sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, nghiên cứu nâng cao hiểu biết về yếu tố nguy cơ, tuyên truyền mạnh mẽ tác động của TNTT đến sức khoẻ cộng đồng và kinh tế. 2.1. Tổ chức, quản lý, chỉ đạo thực hiện Ban Chỉ đạo phòng chống TNTT ngành y tế được thành lập năm 2003 theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế tiếp tục được củng cố và tăng cường chỉ đạo ngành thực hiện hoạt động phòng chống TNTT. Kế hoạch phòng chống TNTT giai đoạn 2003-2005 đã được lãnh đạo Bộ phê duyệt và kế hoạch cụ thể hàng năm đã được xây dựng. Công tác phòng chống TNTT cũng là một chỉ số về tuyên truyền phòng chống TNTT trong các chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 được ban hành trong Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 7 tháng 2 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Phòng chống TNTT là một trong các tiêu chí đối với gia đình văn hoá sức khoẻ, khu phố văn hoá sức khoẻ, làng văn hoá sức khoẻ được ban hành tại Thông tư số 02/2003/TT-BYT ngày 28 tháng 3 năm 2003 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện chương trình phối hợp hoạt động đẩy mạnh. Bộ Y tế cũng đã ban hành Hướng dẫn xây dựng cộng đồng an tòan, phòng chống TNTT tại Quyết định số 170/QĐ-BYT ngày 17 tháng 1 năm 2006. 2.2. Hoạt động Thông tin -Giáo dục - Truyền thông Phòng chống TNTT Các hoạt động truyền thông giáo dục về phòng chống TNTT đã được tăng cường thông qua các tuần lễ hoặc tháng tuyên truyền được tổ chức hàng năm như: Tuần lễ An toàn vệ sinh Lao động và phòng chống cháy nổ vào tháng 3, Tháng hành động vì an toàn vệ sinh thực phẩm vào tháng 5. Nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày Sức khoẻ thế giới năm 2004 với chủ đề an toàn giao thông đã được tổ chức tại các tỉnh thành lớn của cả nước như: họp báo, mit- tinh, diễu hành, tuyên truyền trên đường phố. Hệ thống truyền thông đại chúng (Truyền hình Việt Nam VTV1, VTV2; Đài tiếng nói Việt Nam; các báo) cũng đã tham gia tích cực tuyên truyền phòng chống TNTT cho cộng đồng. Để thông báo và chia sẻ thông tin về các hoạt động phòng chống TNTT giữa các Bộ ngành và địa phương "Tờ tin phòng chống TNTT" đã được xuất bản 6 tháng /lần. Thông tin tuyên truyền trên các báo cũng được đẩy mạnh. Số báo chuyên đề phòng chống TNTTcủa Báo Sức khoẻ và đời sống cũng đã được phát hành rộng rãi. Các báo lớn đều có chuyên mục về phòng chống TNTT. Bản tin làng văn hoá sức khoẻ cũng được cập nhật các thông tin về phòng chống TNTT, xây dựng cộng đồng an toàn (CĐAT). Hoạt động truyền thông bằng các hình thức tờ rơi, áp phích, pano, băng rôn luôn được đẩy mạnh. Hơn 30.000 tờ rơi các loại, trên 10.000 tranh truyện, lịch, tờ rơi, áp phích về phòng chống TNTT trong lao động, giao thông, trong sinh hoạt và nhà trường đã được in ấn và phân phối cho các tỉnh. Cuốn bảng kiểm xây dựng CĐAT bằng hình ảnh đã được in ấn với số lượng trên 4.000 cuốn. Trang web về TNTT đã hoàn chỉnh bản tiếng Việt và tiếng Anh, hiện đã kết nối với trang web của Bộ Y tế để có thể phổ biến thông tin, tài liệu đến mọi đối tượng trong nước và ngoài nước (địa chỉ truy cập: www.moh.gov.vn/Tainanthuongtich). Phát động các cuộc thi tìm hiểu về phòng chống TNTT/xây dựng CĐAT, thiết kế trang thiết bị an toàn. Biểu tượng CĐAT Việt Nam đã được xây dựng và đang hoàn thiện để chính thức sử dụng cho các hoạt động xây dựng CĐAT, các địa phương cũng đã thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức về phòng chống TNTT trong trường học và trong gia đình. 2.3. Tăng cường giám sát TNTT các tuyến: Bộ Y tế bắt đầu triển khai việc lồng ghép hệ thống giám sát, báo cáo, thống kê TNTT vào trong hệ thống báo cáo thống kê chung của ngành y tế từ năm 2003. Tất cả các trường hợp TNTT được thu thập từ trạm y tế xã hàng tháng và báo cáo lên tuyến huyện, tỉnh hàng quý. Bộ Y tế đã nhận được báo cáo TNTT 12 tháng năm 2004 của 49/64 tỉnh, thành và báo cáo 6 tháng đầu năm 2005 của 41/64 tỉnh thành. Phần mềm vào số liệu, phân tích và báo cáo cũng đã được hoàn thiện để hỗ trợ cho công tác thống kê tại các tuyến. Xây dựng bộ công cụ điều tra hộ gia đình quy mô tỉnh về tình hình TNTT và kiến thức của người dân để hỗ trợ các địa phương trong việc lập kế họach phòng chống TNTT có hiệu qủa. Việc điều tra đã được thực hiện tại Hải Dương, Hưng Yên năm 2003-2004 và đang được triển khai tại Huế và Long An. Bắt đầu triển khai giám sát TNTT tại bệnh viện. Hiện đang trong giai đoạn thí điểm triển khai tại 7 bệnh viện của 3 tỉnh là Hà Nội, Hồ Chí Minh và Ninh Bình. Giám sát TNTT trẻ em tại 2 bệnh viện Nhi của Hải Phòng và Cần Thơ. Hệ thống giám sát TNTT tại bệnh viện cho phép cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố liên quan đến TNTT của tất cả các trường hợp thương tích đến bệnh viện. 2.4. Xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn * Xây dựng CĐAT lồng ghép trong phong trào làng Văn hoá -Sức khoẻ. Thực hiện Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Y tế về thực hiện phong trào làng Văn hoá -Sức khoẻ (VHSK), Bộ đã có Thông tư hướng dẫn ngành y tế toàn quốc triển khai xây dựng thực hiện tiêu chí gia đình, ấp, làng, xã, phường VHSK trong đó có tiêu chí về CĐAT. Đã tổ chức biên soạn, in ấn và phân phối trong toàn quốc Hướng dẫn xây dựng CĐAT theo hướng tiếp cận mới huy động người dân tham gia có thể kiểm soát được tốc độ TNTT gia tăng và giải quyết các vấn đề về an toàn cộng đồng không thể giải quyết theo phương pháp thông thường từ trên xuống. Với sự hỗ trợ của Chương trình Hợp tác Y tế Việt Nam-Thuỵ Điển, Bộ Y tế đang chỉ đạo xây dựng mô hình điểm CĐAT tại Hà Nội và Hưng Yên để có thể nhân rộng ra các tỉnh khác từ 2005 và có thể tham gia mạng lưới CĐAT quốc tế vào năm 2006. * Hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ em tập trung cho các hoạt động nâng cao năng lực cho các tuyến về phòng chống TNTT cho trẻ. Phòng chống đuối nước, bỏng, ngộ độc ở trẻ em. Các tiêu chí an toàn cho trẻ trong gia đình, trường học, cộng đồng cũng đã được xây dựng. Các can thiệp phòng chống đuối nước trong cộng đồng đã từng bước được triển khai bao gồm: chương trình tập bơi trong trường học, cộng đồng. Xây dựng hỗ trợ bể bơi, rào ao hồ, xây cầu qua kênh rạch.... Phòng chống TNTT trong trường học bằng kiên cố hóa trường lớp, sân chơi, củng cố đường giao thông, nơi tập luyện thể thao. 2.5. Hoạt động sơ cứu, cấp cứu, phục hồi chức năng do TNTT Nhận thức cấp cứu TNTT ngày càng trở nên cấp bách, năm 2005 ngành y tế đã tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều hoạt động củng cố và tăng cường mạng lưới cấp cứu TNTT nhằm nhanh chóng tiếp cận, cứu chữa kịp thời, hiệu quả cho nạn nhân, làm giảm tỷ lệ tử vong, hạn chế hậu quả, di chứng và giảm chi phí cho người bệnh và xã hội. Cơ sở cấp cứu tuyến huyện, tỉnh được củng cố và tăng cường nhân lực, trang bị phục vụ cấp cứu như máy tạo ô xy, siêu âm, chụp X-quang, thuốc, máu, dịch truyền để có thể xử lý tại chỗ hầu hết các chấn thương: cấp cứu truyền máu, kỹ thuật cấp cứu đa chấn thương, phẫu thuật cấp cứu... Do đó nhiều tỉnh đã cứu sống hàng nghìn nạn nhân TNTT mà những năm trước phải chuyển tuyến Trung ương hoặc tử vong. Các địa phương dọc đường quốc lộ, tỉnh lộ đã đầu tư nhân lực, trang bị, kinh phí phục vụ sơ cứu do giao thông. Có tỉnh đã tổ chức nhiều đội "tình nguyện viên cấp cứu” là hội viên CTĐ, cựu chiến binh thực hiện sơ cấp cứu cho hầu hết các trường hợp bị TNTT do giao thông. Xây dựng các đề án tăng cường sơ cứu và vận chuyển cấp cứu, các danh mục chuẩn cho các tuyến về trang thiết bị và nhân lực cần thiết cho cấp cứu chấn thương. Tiến hành điều tra thực trạng dịch vụ cấp cứu, phục hồi chức năng tại 40 xã của 12 huyện ở 7 tỉnh năm 2003 để có số liệu cơ bản xây dựng mô hình cấp cứu TNTT phù hợp với đòi hỏi thực tế. Với sự tham gia, đóng góp của các chuyên gia đầu ngành về điều trị, cấp cứu, phục hồi chức năng, đã tổ chức biên soạn, in, phân phối 1.000 cuốn tài liệu Hướng dẫn thực hành cấp cứu TNTT ngoài bệnh viện cho cán bộ y tế cơ sở. Dịch và xuất bản tài liệu hướng dẫn chăm sóc chấn thương thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới. Tài liệu cung cấp những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng cũng như trang thiết bị và vật dụng cần thiết cho công tác chăm sóc chấn thương tại các cơ sở y tế. Hướng dẫn chăm sóc chấn thương ngoài bệnh viện của Tổ chức Y tế thế giới hiện nay đã được dịch sang tiếng Việt và đang được in ấn để phổ biến trong thời gian tới. Đây là tài liệu giúp xây dựng và tăng cường năng lực cho các hệ thống chăm sóc chấn thương tại cộng đồng, ngoài các cơ sở y tế. 2.6. Nâng cao năng lực hoạt động phòng chống TNTT của cán bộ y tế các tuyến Tổ chức nhiều lớp đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ y tế về phòng chống TNTT thông qua các trường đại học y và các viện như : dịch tễ học thương tích, giám sát thương tích, kỹ năng truyền thông, xây dựng các mô hình can thiệp phòng chống thương tích tại cộng đồng đặc biệt cho trẻ em. Tổ chức 33 lớp tập huấn kỹ năng sơ cấp cứu TNTT cho 1.352 cán bộ y tế tuyến xã /huyện. Xây dựng các tài liệu phổ biến các kỹ năng phòng chống TNTT phân phát cho các cán bộ làm công tác phòng chống TNTT ở các tuyến từ trung ương đến địa phương (hướng dẫn xây dựng CĐAT, hướng dẫn giám sát, thực hiện công tác truyền thông giáo dục).Các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới về phòng chống TNTT cũng đã kịp thời dịch ra tiếng Việt để phổ biến cho cán bộ y tế các tuyến như: Báo cáo toàn cầu về TNTT giao thông đường bộ, Chiến lược 5 năm của Tổ chức Y tế thế giới về phòng chống TNTT giao thông đường bộ, Hướng dẫn giám sát thương tích, Thương tích Gánh nặng bệnh tật toàn cầu, Hướng dẫn điều tra cộng đồng về thương tích và bạo lực, Hướng dẫn chăm sóc chấn thương thiết yếu. Hướng dẫn chăm sóc chấn thương chuyên sâu.
2.7. Triển khai các hoạt động nghiên cứu về phòng chống TNTT: Nhiều nghiên cứu đã được triển khai thực hiện về các yếu tố nguy cơ cũng như tình hình TNTT. Qua tổng kết cho đến nay đã có gần 60 nghiên cứu từ trên 40 đơn vị về vấn đề thực trạng và công tác phòng chống TNTT. Các nghiên cứu tập trung vào 4 chủ đề chính sau: Nghiên cứu về TNTT ở trẻ em như tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến TNTT ở trẻ em, đánh giá kiến thức và thực hành của cộng đồng về phòng tránh TNTT trẻ em, giám sát TNTT trẻ em tại bệnh viện, thực trạng về đuối nước trẻ em và tình hình chấn thương giao thông trẻ em. Một số nghiên cứu về chấn thương giao thông, cấp cứu và điều trị chấn thương, chấn thương trong sinh hoạt và lao động, nghiên cứu về chính sách và giải pháp phòng chống đã được thực hiện. Một hội nghị toàn quốc về nghiên cứu khoa học phòng chống chấn thương cũng đã được tổ chức tại Hà Nội tháng 11 năm 2005, trên 70 báo cáo khoa học trình bày tại hội nghị là những kết quả ban đầu cho thấy việc nghiên cứu trong lĩnh vực phòng chống chấn thương đã được nhiều đơn vị, tổ chức quan tâm.
2.8. Hợp tác quốc tế Thiết lập mối quan hệ với Trung tâm nghiên cứu thương tích, Trường Đại học Monash, Úc, mời các chuyên gia nước ngoài từ trung tâm phòng chống chấn thương từ Úc, Mỹ, Thụy Điển và chuyên gia của WHO hỗ trợ xây dựng hệ thống giám sát, cấp cứu TNTT, xây dựng kế hoạch v.v. Cử cán bộ tham gia các hội thảo quốc tế: Hội thảo về phòng chống TNTT khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Úc(2003), Hội thảo phòng chống TNTT cho trẻ em tại Băng Cốc (2002); Hội thảo khu vực về Cộng đồng an toàn tại Sewon - Hàn Quốc, Hội nghị quốc tế về phòng chống thương tích và xây dựng cộng đồng an toàn tại Viên, Áo 2004, Hội nghị khu vực về cộng đồng an toàn tại Đài Loan (2005...)
3. Thuận lợi và khó khăn Kết quả thực hiện chính sách quốc gia về phòng chống TNTT trong thời gian qua có nhiều thuận lợi tuy nhiên cũng có những khó khăn, thách thức cần phải vượt qua.
3.1. Thuận lợi: - Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Lãnh đạo Bộ Y tế trong công tác phòng chống TNTT. - Đã có chính sách quốc gia phòng chống TNTT. Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Bộ Y tế và các Bộ/ngành liên quan. Đây là cơ sở để lập kế hoạch hành động cụ thể triển khai kế hoạch. - Các dự án trong nước và quốc tế liên quan đến phòng chống TNTT đã và đang được triển khai là cơ sở để rút ra các bài học kinh nghiệm khi triển khai rộng công tác phòng chống TNTT trong giai đoạn tới.
3.2. Khó khăn và thách thức - Tình hình TNTT vẫn tiếp tục gia tăng trong tất cả các lĩnh vực do đô thị hoá mạnh, phát triển mạng lưới giao thông, phương tiện giao thông tăng nhanh, thành lập nhiều các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh, hộ sản xuất... - Công tác phòng chống TNTT chưa được triển khai đồng bộ từ trung ương đến cơ sở, chưa có một chỉ đạo thống nhất của các ngành, các lĩnh vực cùng tham gia. - Hoạt động thông tin truyền thông để xã hội hoá hoạt động phòng chống TNTT chưa sâu rộng trong các đoàn thể và nhân dân. Các chính sách và chủ trương phòng chống TNTT quốc gia chưa được phổ biến rộng rãi. Lãnh đạocác cấp chưa nhận thức TNTT là vấn đề sức khoẻ cộng đồng trầm trọng nên chưa có kế hoạch kiểm soát toàn diện, cụ thể và hiệu quả, ý thức người dân còn hạn chế. - Hệ thống thông tin giám sát, báo cáo số liệu TNTT còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh được thực trạng tình hình TNTT. - Phương tiện sơ cứu, cấp cứu và vận chuyển nạn nhân còn thiếu, không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Thiếu cán bộ có kiến thức và kinh nghiệm trong công tác phòng chống TNTT. - Đầu tư kinh phí các cấp cho phòng chống TNTT khác chưa được đưa vào kế hoạch hàng năm từ Trung ương đến địa phương.
4. Một số định hướng về chính sách phòng chống TNTT của ngành y tế trong giai đoạn 2006 - 2010 Tiếp tục và đẩy mạnh những thành công trong giai đoạn 2002-2005, ngành Y tế cũng đã đưa ra định hướng chiến lược cho công tác phòng chống TNTT trong giai đọan 2006-2010 như sau:
4.1. Mục tiêu chung Góp phần đạt mục tiêu chung của Chính sách quốc gia phòng chống TNTT là giảm tỷ lệ TNTT trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như giao thông, lao động sản xuất, sinh hoạt trong gia đình, nhà trường, nơi công cộng nhằm đạt hiệu quả tích cực trong việc bảo đảm an toàn về tính mạng, tài sản của Nhà nước, hạnh phúc của nhân dân, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội.
4.2. Mục tiêu cụ thể - Giảm tỷ lệ TNTT nặng và tử vong do TNTT tại cộng đồng. - Xã hội hoá các hoạt động phòng chống TNTT, tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng chống TNTT. - Thiết lập hệ thống giám sát thương tích trên toàn quốc tạo cơ sở cho việc triển khai kế hoạch và đánh giá hoạt động phòng chống TNTT. - Nâng cấp hệ thống sơ cấp cứu và phục hồi chức năng tại cộng đồng. - Triển khai mô hình cộng đồng an toàn trên phạm vi toàn quốc. - Nâng cao năng lực phòng chống TNTT cho các cán bộ trong và ngoài ngành y tế.
4.3. Chỉ tiêu cụ thể đến 2010: - Hàng năm giảm 10% tỷ lệ thương tích nặng và tử vong do TNTT tại cộng đồng. - 100% các tỉnh/thành phố có Ban chỉ đạo phòng chống TNTT. - 100% các tỉnh tổ chức thông tin truyền thông tuyên truyền về phòng chống TNTT, CĐAT, gia đình và trường học an toàn, về sử dụng thuốc chữa bệnh an toàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thức ăn trên các phương tiện thông tin đại chúng. - 100% các tỉnh /thành phố có hệ thống giám sát thông tin báo cáo số liệu TNTT sử dụng hệ thống giám sát hiện có và phối hợp các hệ thống báo cáo của các Bộ/ngành liên quan. - 70% tỉnh/thành phố phát triển hệ thống sơ cấp cứu, cấp cứu và phục hồi chức năng cho tuyến cơ sở. - 70% tỉnh/thành phố phát triển CĐAT. - Ít nhất 7 trường đào tạo y tế có chương trình giảng dạy về phòng chống TNTT.
4.4. Nội dung hoạt động Về Tổ chức - Tại tuyến trung ương sẽ củng cố và tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống TNTT ngành y tế. tăng cường năng lực hoạt động của Văn phòng thường trực phòng chống TNTT của Bộ Y tế. - Tại các địa phương sẽ hoàn thiện về tổ chức hệ thống và chỉ đạo công tác phòng chống TNTT địa phương. Tăng cường vai trò chỉ đạocủa Ban chỉ đạophòng chống TNTT tuyến tỉnh /huyện. Đưa chỉ tiêu phòng chống TNTT thành chỉ tiêu pháp lệnh trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương, có kế hoạch chỉ đạo thực hiện. Ngoài phần kinh phí do trung ương hỗ trợ, cần huy động kinh phí đầu tư của địa phương trên phương châm Trung ương và địa phương cùng làm. Giáo dục truyền thông: - Xây dựng nội dung truyền thông phòng chống TNTT thường gặp trong gia đình, cộng đồng như bỏng, đuối nước, điện giật, vệ sinh an toàn trong lao động, sử dụng thuốc chữa bệnh an toàn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thức ăn trên các phương tiện thông tin đại chúng thống nhất trong cả nước. - Đa dạng hoá các loại hình truyền thông: Đài truyền hình, đài phát thanh, đài truyền thanh xã phường, áp phích, khẩu hiệu, tờ rơi đến từng hộ gia đình, cá nhân. Truyền thông trực tiếp qua cộng tác viên truyền thông tại cộng đồng. - Tổ chức tốt các phong trào Tháng An toàn giao thông; Tuần lễ An toàn - Vệ sinh lao động - Phòng chống cháy nổ; Tháng an toàn vệ sinh thực phẩm. - Đưa nội dung phòng chống TNTT vào chương trình học tập của trường tiểu học và trung học cơ sở của các huyện điểm, tỉnh điểm, tổ chức thi hiểu biết về phòng chống TNTT. Huy động lực lượng giáo viên và học sinh tham gia vào các hoạt động phòng chống TNTT. - Đào tạo kỹ năng truyền thông, vận động xã hội về phòng chống TNTT cho đội ngũ truyền thông các cấp. - Tăng cường củng cố, kiện toàn hệ thống thu thập, giám sát, phân tích báo cáo, xử lý thông tin về TNTT: - Tập trung xây dựng hệ thống giám sát TNTT tại các tỉnh trên cơ sở tăng cường hệ thống giám sát hiện có và phối hợp các hệ thống báo cáo của các Bộ/ngành liên quan. - Tăng cường năng lực giám sát TNTT thông qua tập huấn nâng cao kiến thức cơ bản về TNTT, giám sát TNTT và sử dụng phần mềm cho cán bộ y tế các tuyến. Đầu tư vi tính hoá hệ thống vào số liệu, báo cáo TNTT cho các tuyến. - Triển khai giám sát TNTT tại bệnh viện nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc chấn thương tại bệnh viện và bổ sung thêm thông tin cho công tác phòng chống. - Điều tra TNTT tại cộng đồng 5 năm 1 lần để đánh giá xu thế, diễn biễn của tình hình TNTT - Tăng cường công tác sơ cứu, cấp cứu, phục hồi chức năng cho tuyến cơ sở. - Xây dựng các đề án tăng cường sơ cứu và vận chuyển cấp cứu, các danh mục chuẩn cho các tuyến về trang thiết bị và nhân lực cần thiết cho cấp cứu TNTT. - Bổ sung trang thiết bị cấp cứu và đào tạo nâng cao năng lực cấp cứu TNTT cho trạm y tế và cơ sở y tế gần các trục đường giao thông để đảm nhận được vai trò cấp cứu TNTT. - Phối hợp với Hội chữ thập đỏ Việt Nam đầu tư phát triển điểm hệ thống sơ cứu và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trong phòng chống TNTT của một số tỉnh /thành phố. Tăng cường tuyên truyền cho cộng đồng số điện thoại khẩn cấp khi có TNTT, các địa điểm cấp cứu, điều trị chuyên khoa. - Xây dựng hệ thống GIS thực hiện quản lý xe cấp cứu và hoạt động vận chuyển cấp cứu tại một số tỉnh /thành phố có tỷ lệ TNTT cao. Thí điểm các hình thức vận chuyển cấp cứu khác ngoài xe cứu thương. Triển khai hệ thống hỗ trợ chẩn đoán và cấp cứu từ xa (Telemedicine) và hỗ trợ triển khai hoạt động của Trung tâm chống độc quốc gia. Xây dựng và phát triển cộng đồng an toàn: - Củng cố các hoạt động xây dựng CĐAT với các hoạt động phòng chống TNTT toàn diện tại các địa phương đã triển khai và mở rộng ra các địa phương khác. Từng bước công nhận các CĐAT trên cơ sở công nhận gia đình an toàn, trường học an toàn tại từng tỉnh. - Tăng cường tuyên truyền cho các hoạt động xây dựng CĐAT trên các phương tiện thông tin đại chúng. - Đào tạo, huấn luyện nâng cao năng lực phòng chống TNTT: - Xây dựng chương trình đào tạo phòng chống TNTT cho các đối tượng và cho các trường đào tạo y tế. - Mở các lớp tập huấn về giáo dục sức khoẻ, truyền thông phòng chống TNTT; về các chương trình xử lý số liệu thống kê, nối mạng Internet trên máy tính; các lớp học về phát hiện, xử trí sơ cứu, cấp cứu các loại TNTT cho nhân viên y tế phòng khám, phòng cấp cứu, phòng khám đa khoa, bệnh viện, huyện xã. Nghiên cứu và hợp tác quốc tế - Đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện và chi tiết về các yếu tố nguy cơ của TNTT để xây dựng chiến lược phòng chống cụ thể - Xây dựng các trung tâm TNTT tại các bệnh viện đầu ngành và các bệnh chuyên khoa như viện bỏng, bệnh viện chấn thương chỉnh hình. - Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các nước đã có kinh nghiệm trong phòng chống TNTT.
|
|
| Cập nhật ngày Thứ hai, 27 Tháng 6 2011 14:09 |
- Tin hoạt động phòng chống chấn thương ở Việt Nam và trên Thế giới
- Tin hoạt động Hội Y tế công cộng Việt Nam
- Thông tin thường kỳ về phòng chống tác hại thuốc lá (PCTHTL)
- Nghiên cứu bệnh chứng về ngộ độc do ăn bánh dày tại xã Hoàng Hoa Thám, Chí Linh, Hải Dương
- Nghiên cứu thí điểm về thái độ của cộng đồng đối với hiện tượng tự tử của thanh thiếu niên tại TP. Hải Phòng, Việt Nam
- Tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp
- Dịch tễ học chấn thương do bỏng ở bệnh nhân nhập viện điều trị tại tỉnh Daklak 1998 - 2002
- Tình hình tai nạn thương tích tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang
- Tình hình tự tử tại TP. Đà Nẵng năm 2004
- Đánh giá và cải thiện môi trường giao thông tại cổng trường: Giải pháp cho các trường học










