English (United Kingdom)
Bảng quảng cáo

Polls

Nội dung của website VPHA
 

Thông báo

Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.

Sự kiện sắp tới

<<  Tháng 5 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Ấn phẩm

an pham
Số lần xem bài viết : 210187
Tình hình tự tử tại TP. Đà Nẵng năm 2004 PDF.   Email
Viết bởi KS. Phan Thị Hòa, BS. Huỳnh Đình Đồng và cộng sự   
Thứ sáu, 09 Tháng 10 2009 01:27
 Tóm tắt

Năm 2004, tại thành phố Đà Nẵng có 487 ca ghi nhận là tự tử, tăng gấp 4 lần so với năm 2003. Riêng Bệnh viện Đà Nẵng số bệnh nhân tự tử vào viện là 148 ca gồm 113 ca cư trú tại TP Đà nẵng và 35 ca là từ tỉnh khác chuyển đến. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tình hình tự tử tại thành phố Đà Nẵng. Kết quả cho thấy: trong số 113 ca tự tử được hồi cứu tại bệnh viện Đà nẵng thì có 72 ca là nữ (chiếm tỉ lệ 63,7%) và 41 ca là nam (chiếm tỉ lệ 36,3%). Phần lớn tập trung chủ yếu ở lứa tuổi thành niên và có gia đình, số ca mắc tập trung ở độ tuổi từ 25 đến 44. Nhưng tỷ lệ nhóm tuổi có hành vi tự tử cao nhất thì tập trung ở lứa tuổi 15 đến 24. Sự phân bố các truờng hợp tự tử theo địa bàn gồm 63,7 % sinh sống tại thành thị và 36,3% sinh sống tại nông thôn. Tuy vây, nếu so sánh trên 100.000 dân thì tỉ lệ người dân nông thôn tự tử tăng gấp đôi so với dân thành thị (nông thôn 25 ca /100.000 dân, thành thị 12 ca /100.000 dân) . Nguyên nhân chính dẫn đến tình hình tự tử tập trung chủ yếu ở các đối tượng có bức xúc về vấn đề gia đình, xã hội, về tình cảm, và một số it người bị các bệnh mãn tính, bệnh tâm thần. Phương tiện sử dụng cho mục đích tự tử là thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột, thuốc ngủ, các loại dược phẩm không rõ tên, một số khác dùng vũ khí. Điều quan trọng là để hạn chế tử vong do các trường hợp tự tử, nên tổ chức các đội cấp cứu kịp thời tại địa phương, đồng thời tuyên truyền giáo dục cộng đồng, xây dựng tốt mối quan hệ gia đình và xã hội. Giám sát tốt việc chấp hành pháp luật nhà nước, tạo dựng lòng tin cho cộng đồng là nhũng biện php hạnchế tình trạng tự tử.

 Abstract

In 2004, as many as 487 cases were reported as suicide in Da Nang city - a fourfold increase to com- pare with 2003. At Da Nang hospital, admission was given to 148 attempted suicide patients, includ- ing 113 patients living in Da Nang city, and 35 cases referred from other provinces. The study aims at evaluating the suicide issue in Da Nang city. Study findings show that among 113 suicide cases recov- ered at Da Nang hospital, 72 cases are females (accounting for 63.7%), and 41 cases are males (36.3%). Most of them are adults and married, ranging from 25 to 44 years of age. Nevertheless, the highest sui- cide rate was found in the 15 - 24 years age group. Regarding distribution of suicide cases by geo- graphical areas: 63.7% living in city and 36.3% in countryside. Nevertheless, the suicide prevalence rate of rural patients is found twofold increase compared with the urban patients (Rural: 25 cases/100,000 population, Urban: 12 cases/100,000 population). Suicide is found prevalent among those people who have family, social and sentimental pressing problems, and a few people with chron- ic or mental illness. Materials used for suicidal purpose are repellent, raticide, soporific, some unknown pharmaceutical products while weapons are used by some people. It is important to minimize the mor- tality from suicide cases by organizing rapid first-aid teams in locality, carrying out education/propa- ganda for the community, and maintaining well the family and social relationships. Monitoring the law observation, establishing community trust are measures to mitigate suicide problems.

1. Đặt vấn đề

Thành phố Đà Nẵng là một trong những đô thị loại 1 của nước ta với sự phát triển kinh tế vượt bậc trong những năm gần đây. Cùng với sự phát triển đó, cuộc sống của người dân thành phố cũng có những đổi thay theo hướng tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trong cộng đồng dân cư không ít người còn phải chịu những áp lực lớn về kinh tế, văn hóa, gia đình, xã hội và những cơn sốc tình cảm.

Nếu bản thân không làm chủ được sẽ dẫn đến những hành vi tiêu cực, một trong những hành vi tiêu cực đó là là tự hủy hoại cơ thể mình, nói chung là tự tử.

Theo thống kê năm 2003, toàn thành phố chỉ có 112 trường hợp tự tử được ghi nhận. Tính đến cuối năm 2004 con số chính xác được thống kê tại bệnh viện thành phố và các bệnh viện tuyến quận / huyện lên đến 478 ca (nguồn số liệu từ Phòng nghiệp vụ Sở y tế), tăng gấp 4 lần so với năm 2003. Đây là một trong những vấn đề đáng được cộng đồng quan tâm.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một báo cáo nào phân tích về các nguyên nhân cũng như yếu tố nào dẫn đến tình trạng chủ động gây tự tử.

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tình hình tự tử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, mô tả nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến hành vi tự tử trong cộng đồng, từ đó đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu tối đa những tổn thất về tính mạng và tài sản của cộng đồng do hành vi gây tự tử.

2. Phương pháp nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng, thời gian nghiên cứu từ 01/01/2004 đến 31/12/2004. Theo phòng kế hoạch thống kê của Sở Y tế thành phố Đà Nẵng (số liệu này được thu thập từ Bệnh viện Đà Nẵng và các bệnh viện tuyến quận /huyện), 478 ca tự tử năm 2004 được ghi nhận, trong số đó có 148 ca nhập viện tại Bệnh viện Đà Nẵng. Tuy nhiên do điều kiện không cho phép, chúng tôi chỉ có thể tiến hành nghiên cứu giới hạn trên 113 ca thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu, sổ vào viện của Khoa cấp cứu Bệnh viện Đà Nẵng, hồ sơ bệnh án của 113 bệnh nhân tự tử và mẫu điều tra tại gia đình bệnh nhân. Số liệu cần thu thập là giới, tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tình trạng gia đình, bệnh tật và các yếu tố liên quan. Xử lý và phân tích số liệu dựa trên phần mềm Excel.

3. Kết quả nghiên cứu

 

 

 

 

Có 72 ca tự tử sinh sống tại khu vực thành thị, chiếm tỉ lệ 63,7%, cao hơn số ở nông thôn, 41 ca (36,3%) Tuy vậy, so với mặt bằng dân số thì tỉ lệ mắc của nông thôn về tự tử lại cao gấp 2 lần: tỉ lệ mắc của nông thôn là 25/100.000 trong khi đó ở thành thị chỉ có 12/100.000.

Nhóm thất nghiệp, không có công ăn việc làm ổn định có số lượng tự tử cao nhất: 40 ca (35,4%), thấp nhất là sinh viên 3 ca (2,7%) trong số bệnh nhân tự tử.

Nhận xét: Đa số các trường hợp tự tử chủ yếu là do kinh tế gia đình, nợ nần (52,2%), những cơn sốc do tình cảm, do các nguyên nhân không rõ ràng và một số ít là do mặc cảm vì ốm đau, bệnh tật.

          

Hóa chất trừ sâu (33.6%) và thuốc ngủ (31.0%) thường được dùng trong tự tử; phần lớn đối tượng là nông dân sử dụng thuốc trừ sâu để tự sát.

Trong bảng 6 và bảng 7, chúng tôi tính cả những đối tượng ở ngoại tỉnh. Có 58,1 % đối tượng tự tử được chẩn đoán ở mức độ trung bình, nhưng mức độ trầm trọng khi nhập viện cũng không phải là thấp (33,1%), chỉ có 8,8 % ở mức độ nhẹ.

 

Đa số các trường hợp tự tử đều được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện thành phố Đà Nẵng (75%) trong đó có cả những đối tượng ở ngoại tỉnh.

 

4. Bàn luận

Trong số 113 ca điều tra, nữ giới chiếm đa số hơn nam giới, do nữ thường dễ bị sốc do các yếu tố tình cảm, gia đình, và dễ bị tổn thương hơn nam giới. Do đó việc không làm chủ được mình và dễ dẫn đến các hiện tượng tiêu cực như bỏ nhà đi, và khi không có lối thoát thì sẽ hành động tự hủy hoại cơ thể mình.

Về độ tuổi có hành vi nguy cơ tự tử cao nhất là độ tuổi từ 20 đến 24 tuổi (36 trường hợp, chiếm tỉ lệ 31,9% số vào viện tuy có 5 độ tuổi). Kế đến là lứa tuổi 15 đến 19 (14 trường hợp, 12,4%). Đây là 2 nhóm tuổi dậy thì và mới trưởng thành, đa số chưa chín chắn về phương diện tình cảm, công việc làm ăn, học vấn thất bại, chưa có công ăn việc làm ổn định, thêm vào đó các áp lực về gia đình, xã hội làm cho đối tượng dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực.

Về nghề nghiệp, số không có công ăn việc làm chiếm tỉ lệ cao nhất, kế đó là nhóm có nghề nghiệp không ổn định (làm dịch vụ), học sinh, sinh viên, nông dân và cuối cùng là nhóm cán bộ công chức.

Về nguyên nhân dẫn đến hành vi tự tử, điều tra sơ bộ cho thấy phần lớn là do các yếu tố tình cảm, 100% lứa tuổi học sinh sinh viên tự tử là do những cú sốc tình cảm, không làm chủ được mình nên dẫn đến hậu quả là tìm đến cái chết. Ở các lứa tuổi trưởng thành một số cũng do tình cảm gia

Mức trầm trọng có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng chiếm hơn 33%, mức độ trung bình chiếm hơn 58%, chỉ có khoảng 9% là ở mức độ nhẹ. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tự tử dễ ảnh hưởng đến tính mạng như thế nào. Đơn vị cấp cứu ban đầu để giải quyết kịp thời các trường hợp tự tử ở cơ sở còn ít, điều này ảnh hưởng không ít đến tính mạng của bệnh nhân do cấp cứu không kịp thời.

Hạn chế trong nghiên cứu: thông tin thu thập được thường thiếu và độ tin cậy không cao, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, theo dõi giám sát vô cùng khó khăn.

Tự tử là một trong những vấn đề thuộc lĩnh vực tâm lý mà cộng đồng cần quan tâm, nhất là ở lứa tuổi dậy thì và mới trưởng thành, phụ nữ và ở nông thôn. Đề nghị gia đình và xã hội cần quan tâm đối với lứa tuổi vị thành niên cũng như lứa tuổi vừa mới trưởng thành. Chính quyền, đoàn thể và gia đình cần quan tâm, tạo điều kiện để sắp xếp công ăn việc làm cho họ, chú trọng hơn nữa đến cộng đồng vùng nông thôn, quản lý chặt chẽ các loại hóa chất dược phẩm nêu trên. Cần trang bị các phương tiện, đơn vị cấp cứu ban đầu tại cơ sở để kịp thời giải quyết cấp cứu các trường hợp nặng, hạn chế tử vong do đến bệnh viện quá chậm.

 

Lời cảm ơn

Xin chân thành cám ơn Khoa cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng, Phòng Kế hoạch tổng hợp Sở Y tế TP Đà nẵng, các bệnh viện quận /huyện và gia đình của 113 bệnh nhân đã cung cấp cho chúng tôi số liệu và những thông tin quan trọng để hoàn thành báo cáo này.

 

 

Tác giả: KS. Phan Thị Hòa - Cán bộ Trung tâm Y tế dự

phòng Đà Nẵng. Địa chỉ: 315 Phan Chu Trinh - quận Hải

Châu - thành phố Đà Nẵng. E.mail: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. .

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

 

1. BS. E. Krug. Thương tích, nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu. 1999. Nhà xuất bản Y học- dịch ra tiếng Việt năm 2002.

2. Ts. Charles Mock, Ts. Mick Ballesteros, Ts. Lê Cự Linh, Ts. Nguyễn Văn Tường. Chấn thương có chủ định: Bạo lực và Tự tử. Tài liệu tập huấn Chương trình Đào tạo Phòng chống và Kiểm soát chấn thương . 10. 2004.

 

 

18 Tạp chí Y tế Công cộng, 5.2006, Số 5 (5)

 

| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU
Cập nhật ngày Thứ hai, 27 Tháng 6 2011 14:07
 
Các bài viết khác:
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat