Menu chính
| Trang chủ |
| Tin tức |
| Tạp chí |
| Hội nghị hàng năm |
| Các chương trình |
| Tài liệu |
| Thư viện |
| Liên kết |
| Liên hệ |
| Diễn đàn |
Polls
Thông báo
Thông báo mới nhất của Hội Y tế Công cộng Việt Nam được cập nhật tại đây. Xin chú ý theo dõi.| Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể |
| Viết bởi Robert Beaglehole(*), Ruth Bonita(**), Richard Horton(***).Người dịch: TS. Nguyễn Huy Quang | |
| Thứ hai, 26 Tháng 10 2009 22:53 | |
|
Thế giới đang tiến vào kỷ nguyên mới mà ở đó tồn tại đồng thời một cách trái ngược những chỉ số sức khoẻ ngày càng được cải thiện và những chỉ số sức khoẻ khác lại có đảo lộn cơ bản. Những sự thay đổi nhanh chóng về tình hình sức khỏe trên toàn cầu vốn đã phức tạp nay lại đang diễn ra trong bối cảnh mà lực lượng cán bộ y tế công cộng chưa sẵn sàng để đương đầu với những thử thách đó. Sự chưa sẵn sàng này phần nào là do các thử thách đó lớn và phức tạp, do lực lượng cán bộ và hạ tầng cơ sở của ngành y tế công cộng đã bị lãng quên, và do còn thiếu các chương trình đào tạo.Vấn đề càng trầm trọng hơn bởi việc tập trung kinh phí cho các nghiên cứu y sinh học và sự không thành công khi giải quyết và làm việc với các vấn đề cần quan tâm có liên quan đến sức khoẻ, và điều này duy trì và thúc đẩy phát triển những mô hình hành vi có hại cho sức khỏe. Nếu những cán bộ y tế công cộng có ý định giải quyết những thách thức đối với vấn đề sức khỏe cấp quốc gia và toàn cầu một cách hiệu quả thì cách thức mà họ tiến hành cần có sự thay đổi quan điểm lớn. Cần phải có cái nhìn rõ ràng với vấn đề y tế công cộng là gì và nó có thể đem lại những gì. Để làm được điều này, tầm nhìn về y tế công cộng không chỉ được truyền bá đến những người làm công tác y tế công cộng mà cần phổ biến cho cộng đồng những người hoạch định chính sách, đó là những người mà hành động của họ là yếu tố thiết yếu để cải thiện sức khỏe cho công chúng. Chúng tôi đề nghị cần xây dựng lại định nghĩa về y tế công cộng với mong muốn nó sẽ phù hợp hơn trước những thách thức về sức khỏe ở cấp quốc gia và trên toàn cầu trong kỷ nguyên mới này. Public Health in the new era: Improving health through collective action
The world is entering a new era in which, paradoxically, improvements in some health indicators and major reversals in other indicators are occurring simultaneously. Rapid changes in an already complex global health situation[1] and [2] are taking place in a context in which the global public- health workforce is unprepared to confront these challenges. This lack of preparation is partly because the challenges are large and complex,[3] the public-health workforce and infrastructure have been neglected, and training programmes are inadequate. These problems are exacerbated by the concentration of funding on biomedical research and the failure to confront and work with vest- ed interests, which promote and sustain unhealthy behaviour patterns. If public-health practitioners are to address national and global health challenges effectively, the way they work and make their work relevant to these challenges 4 will require a major reorientation. A clear vision of what public health is, and what it can offer, is required. To be achievable, the vision must then be communicated not only to its practitioners, but also to the wider policy community, whose actions are necessary to improve the health of the public. Here, we propose a reformulation of public health appropriate for the global and national health challenges in this new era.
Thực hành y tế công cộng Các tiếp cận về thực hành y tế công cộng phụ thuộc vào yếu tố thời gian và địa điểm. Chúng được phân biệt chủ yếu là bởi lượng quyền hạn nhà nước giao cho và cơ sở chuyên ngành kiến thức. Xét về sự tham gia và trách nhiệm của chính quyền, có hai cách tiếp cận chính: mô hình y tế nhà nước và mô hình y tế thị trường. Thực hành y tế công cộng ở Mỹ là một ví dụ về cách tiếp cận y tế thị trường. Mục tiêu của mô hình này là nhằm giới hạn trách nhiệm của chính phủ đối với y tế công cộng và khuyến khích trách nhiệm cá nhân trong việc nâng cao sức khỏe, với giả thuyết rằng thị trường sẽ đáp ứng loại hàng hoá đặc biệt này cho nhu cầu của cá nhân, do đó sẽ giúp nâng cao sức khoẻ. Ngược lại, mô hình y tế công, coi trọng vai trò của nhà nước, bỏ qua những lĩnh vực có thể được coi là đời sống riêng tư. Một mô hình đặc trưng như thế đã được du nhập sang Liên bang Xô Viết, nơi mà y tế công cộng đã trở thành trung tâm của chính sách nhà nước và được khái quát trong lời nhận xét của Lênin: "Nếu chủ nghĩa cộng sản không tiêu diệt những kẻ phá hoại thì chính những kẻ phá hoại sẽ tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Một mô hình khác được thấy ở Trung Quốc trong vài thập kỷ sau cuộc cách mạng 1949. Nền tảng kiến thức chuyên ngành y tế công cộng có thể bị thu hẹp chủ yếu trong khoa học y học - hay được mở rộng và bao gồm tất cả, tập hợp nhiều chuyên ngành kể cả khoa học chính trị. Mô hình y tế đã được xác nhận theo truyền thống ở nước Anh mà ở đó y tế công cộng cho đến tận gần đây vẫn được xem như một nhánh chuyên biệt trong y học lâm sàng. Cách tiếp cận đa ngành rộng rãi đối với y tế công cộng, đôi khi vẫn được đề cập là mô hình pháp lý xã hội có từ lâu ở một số nước châu Âu, được Virchow khởi xướng ở nước Phổ vào cuối thế kỷ 19 với một lần xuất hiện thoáng chốc ở một số trường đại học ở Anh vào giữa thế kỷ trước. Cách tiếp cận y tế công cộng này trở nên đặc biệt mạnh mẽ ở châu Mỹ La tinh từ giữa thế kỉ trước, và đã được lặp lại trong cả mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu Alma-Ata và y tế công cộng mới vào những năm 80 của thế kỷ 20. Thực hành y học xã hội thì lại chú trọng các yếu tố quyết định mang tính xã hội và môi trường đối với sức khỏe và bệnh tật cùng với ảnh hưởng của các chính sách xã hội và kinh tế tới tình trạng sức khỏe. Cách tiếp cận này hiếm khi có khả năng thu hẹp được khoảng cách giữa những lời khoa trương và việc đưa ra chính sách.
Định nghĩa y tế công cộng Định nghĩa về y tế công cộng đã thay đổi khi y tế công cộng phát triển. Thường hầu hết các định nghĩa mang ý nghĩa là mối quan tâm chung của công chúng, tập trung vào những yếu tố quyết định đến sức khỏe mang tính rộng lớn hơn và mong muốn nâng cao sức khỏe cho toàn bộ quần thể. Các định nghĩa trước cũng có đề cập rõ ràng đến việc quản lý các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Việc có quá nhiều các định nghĩa cho thấy một định nghĩa ngắn gọn súc tích về y tế công cộng vừa rộng rãi về phạm vi và vừa thu hút được nhiều sự chú ý là rất cần thiết. Chúng tôi đề xuất rằng một định nghĩa phù hợp về y tế công cộng sẽ là: "Phối hợp hành động để liên tục nâng cao sức khỏe của toàn bộ quần thể”
Định nghĩa này nhấn mạnh vào những đặc thù thực hành y tế công cộng: tập trung vào các hành động và can thiệp cần có các hành động tập thể (cộng tác hay có tổ chức); tính duy trì (ví dụ: sự cần thiết kết hợp chính sách trong các hệ thống hỗ trợ); và các mục đích của y tế công cộng (nâng cao sức khỏe toàn bộ quần thể và giảm sự bất bình đẳng trong sức khỏe). Nền tảng đạo đức của y tế cộng cộng có vai trò quan trọng tương đương với định nghĩa của nó nhưng khung đạo đức của y tế công cộng là vấn đề mới mẻ. Quan điểm của chúng tôi về nền tảng đạo đức của y tế công cộng bắt nguồn từ kiến thức về sự tác động rộng lớn của điều kiện môi trường và kinh tế xã hội làm cản trở viêc các cá nhân ra quyết định về sức khỏe. Lập luận này đảm bảo cho những qui định tích cực của nhà nước và cộng đồng nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của người dân. Nó dựa trên giả thuyết rằng tất cả các cuộc sống đều có giá trị bình đẳng. Y tế công cộng đáp ứng với những thách thức về sức khỏe mang tính toàn cầu. Muốn giải quyết những thách thức về sức khỏe mang tính toàn cầu một cách có hiệu quả thì việc thực hành y tế công cộng cần phải thay đổi. Chỉ chú trọng tới những ưu tiên sức khỏe khẩn cấp như HIV/AIDS, lao và sốt rét ở vùng châu Phi - Cận Sahara hay giới hạn tập trung vào các Mục tiêu Thiên niên kỷ là chưa đủ. Cần phải có các chương trình và chính sách để đáp ứng với đói nghèo nguyên nhân cơ bản của gánh nặng bệnh tật toàn cầu để dự phòng các dịch bệnh không truyền nhiễm đang nổi lên; giải quyết những thay đổi môi trường toàn cầu, những thảm họa tự nhiên hay do con người gây ra và nhu cầu phát triển sức khỏe bền vững. Lập luận cho hành động này là sức khoẻ vừa mang tính nhân quyền vừa là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của loài người. Y tế công cộng đang được thực hành giờ đây không còn ở vị trí để đáp ứng hiệu quả trước những thách thức, chủ yếu là do năng lực của lực lượng y tế công cộng không theo kịp tốc độ của sự thay đổi nhu cầu. Việc không chú ý đến cơ sở hạ tầng y tế công cộng và điểm yếu của các hệ thống y tế đã làm vấn đề này trở nên trầm trọng hơn. Ở hầu hết các nước phát triển, y tế công cộng được phát triển theo trọng điểm và, ở bình diện lớn hơn, hướng theo các vấn đề nghiên cứu của các nhà dịch tễ học và các nhà khoa học y sinh. Những trọng điểm này thường là những gì đo lường dễ dàng như lượng cholesterol, huyết áp chứ không đơn thuần chỉ nêu ra những vấn đề vô cùng phức tạp của các tác động xã hội mà cũng gây ảnh hưởng đến sức khỏe trực tiếp hoặc gián tiếp; ví dụ như vấn đề chuyển dịch kinh tế. Các nghiên cứu cùng với chính sách y tế không có mối liên quan với nhau làm cho chúng có khoảng cách ngày càng xa và trọng tâm của cải cách y tế lại hướng vào các dịch vụ điều trị đã tạo khoảng cách lớn hơn cho y tế công cộng. Việc quan tâm ngày càng nhiều đến khủng bố sinh học và sự chậm phát triển kinh tế kết hợp với áp lực bắt buộc các nghiên cứu y tế công cộng phải hướng vào nghiên cứu y sinh học - đã làm suy yếu năng lực y tế công cộng. Những thách thức của sức khỏe toàn cầu đòi hỏi một lực lượng cán bộ có tầm nhìn rộng về y tế công cộng, một khả năng làm việc hợp tác đa ngành, đa lĩnh vực và các kĩ năng tác động đến việc hoạch định chính sách ở cấp độ địa phương, quốc gia và toàn cầu. Trên quan điểm về tầm quan trọng của chính trị đối với sự phát triển của các chính sách y tế công cộng, các nhà thực hành y tế công cộng nên liên hệ chặt chẽ với cộng đồng mà họ phục vụ để tạo được sự hỗ trợ lâu dài cần có để đáp ứng với các thách thức sức khỏe toàn cầu. Tầm cỡ của những thách thức này có nghĩa là tất cả các thành viên thuộc lực lượng y tế cần áp dụng quan điểm về y tế công cộng trong các hoạt động thường ngày của họ.
Các chủ đề chính trong lý thuyết và thực hành y tế công cộng hiện đại Y tế công cộng hiện đại có 5 chủ đề chính. Mỗi chủ đề là một điểm đặc trưng cho thực hành y tế công cộng hiện đại. Đáng tiếc là các chủ đề này hiếm khi được phản ánh trong thực tế của thực hành y tế công cộng hay trong các hoạt động giáo dục y tế công cộng. Lãnh đạo hệ thống y tế Chức năng giám sát này là yếu tố trung tâm trong nỗ lực cải thiện hoạt động của các hệ thống y tế. Nó đòi hỏi một tầm nhìn dài hơi và bao gồm một số hành động cụ thể, trong đó quan trọng nhất là đề ra các định hướng chiến lược cho các hệ thống y tế. Việc xác định phương hướng là trách nhiệm trung tâm của y tế công cộng, như giám sát tiến độ đạt tới các mục đích và chỉ tiêu đã được đề ra của hệ thống. Chức năng này yêu cầu Chính phủ phải có quyết tâm lớn để hành động. Mặc dù nhiều ngành khác cũng có đóng góp một phần, nhưng trách nhiệm đối với khung luật pháp và quản lý của y tế cộng cộng thuộc về chính phủ. Các mặt của việc lãnh đạo trong hệ thống y tế không được chú ý bao gồm việc không thực hiện vận động chính sách hay trách nhiệm giải trình cho việc nâng cao sức khỏe cho toàn bộ quần thể, khi hầu hết các bộ y tế vẫn tiếp tục tập trung vào các vấn đề trước mắt gắn liền với chăm sóc sức khỏe. Phối hợp hành động Cộng tác trong quan hệ đối tác rộng rãi với nhiều nhóm của nhiều lĩnh vực là đặc điểm trung tâm của thực hành y tế công cộng từ giữa thế kỷ 19. Đầu tiên, phối hợp hành động được xem như một cách để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của đói nghèo và bệnh tật liên quan trong các hệ thống phúc lợi ban đầu. Ngày nay, phối hợp hành động giữa các ngành thậm chí có vai trò quan trọng hơn nữa. Khi chưa có các hành động phối hợp hiệu quả, những lợi ích mà khoa học y tế công cộng đem lại sẽ tiếp tục đóng góp nhiều cho các lĩnh vực xã hội đã được hưởng lợi, như những lợi ích đem lại từ việc phòng chống tác hại thuốc lá. Chính phủ là yếu tố then chốt đảm bảo cho phối hợp hành động nhằm đẩy mạnh được việc nâng cao sức khỏe cho quần thể rộng lớn bởi lẽ họ có trách nhiệm cuối cùng với sức khỏe của quần thể. Khi chính phủ coi nhẹ vai trò của phối hợp hành động, thay vào đó coi trọng chủ nghĩa cá nhân và các sức mạnh thị trường thì thực hành y tế công cộng sẽ không tránh khỏi suy yếu, rất lâu mới tiến đến mục tiêu sức khỏe. Do lực lượng y tế công cộng được phân công trách nhiệm lớn và có vốn kĩ năng của họ, nên họ chỉ có trách nhiệm nâng cao sức khỏe thông qua việc xây dựng các chiến lược theo chính sách cho trước và cung cấp can can thiệp gắn liền với phối hợp hành động.
Tiếp cận đa ngành Trên nền tảng của phát triển kỹ thuật trong dịch tễ học từ giữa thế kỷ trước, khoa học định lượng đã thống trị y tế công cộng trong khi các ngành khoa học y tế công cộng khác lại bị coi nhẹ. Người ta nhận thấy rằng nhiều chuyên ngành cần phải hiểu rõ những mối liên hệ giữa các yếu tố tiềm ẩn và các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như cần cung cấp cơ sở bằng chứng cho việc hoạch định chính sách y tế bằng việc sử dụng các phương pháp phù hợp để trả lời các câu hỏi nhằm tác động đến chính sách. Các chương trình đào tạo y tế công cộng nên bao gồm những cơ hội cho học viên được học về cả khoa học định tính và định lượng cũng như các khoa học liên quan như luật y tế công cộng, nhân khẩu học, nhân học và dân tộc học. Đáng tiếc là chỉ một vài viện nghiên cứu, hầu hết là ở các nước phát triển, có các khóa học phù hợp như thế. Trong nghiên cứu có một lĩnh vực chính đã bị lãng quên đó chính là việc chuyển các bằng chứng thực tiễn thành các chương trình và các chính sách hiệu quả. Minh chứng cho điều này là việc không sử dụng bằng chứng thuyết phục rằng các bệnh về tim mạch hầu hết có thể phòng ngừa được. Nhưng nó hiếm khi được đánh giá cao tuy rằng hằng năm có khoảng 6,3 triệu người lớn dưới 70 tuổi chết vì các bệnh về tim mạch so với số người chết vì các bệnh AIDS, sốt rét và lao (thuộc mọi lứa tuổi) gộp lại chỉ là 5,6 triệu người. Kiến thức khoa học rõ ràng chỉ là một trong số các yêu cầu cần thiết trong thực hành y tế công cộng một cách hiệu quả; kiến thức phải gắn chặt với sự tham gia của xã hội dân sự và các phong trào xã hội nhằm thúc đẩy hành động hiệu quả của tất cả mọi người. Họ có thể tạo nên sự khác biệt nếu chúng ta đạt được việc nâng cao sức khỏe cộng đồng một cách bền vững.
Cam kết chính trị trong chính sách y tế công cộng Các nhà thực hành y tế công cộng cần phải hiểu bản chất chính trị của quá trình xây dựng chính sách y tế và các hành động tương ứng. Mặc dù, từ năm 1848 Virchow đã kêu gọi rằng y học cần trở thành một đối tượng của chính trị, nhưng các nhà thực hành y tế công cộng từ lâu đã thờ ơ hoặc phản đối mối liên kết y tế - chính trị quan trọng này. Nguyên nhân của sự thờ ơ này bao gồm: tính thống trị của thực hành y học điều trị đối với y tế công cộng, tư tưởng bảo thủ từ thời đồ đá mới và ảnh hưởng của nó đến những cải cách về y tế, chưa quan tâm đến tính chính sách của y tế công cộng trong các chương trình đào tạo và tập huấn, thiếu các nghiên cứu đầy đủ về các yếu tố quyết định của các chính sách và chương trình hiệu quả, sức mạnh của các lợi ích thương mại và trên hết là sự thiếu tự tin của số đông các nhà thực hành y tế công cộng. Thường thì, cái gì có tính khả thi về mặt chính trị thì lại thường bị giới hạn. Do đó nền khoa học y tế công cộng vững chắc, sự lãnh đạovà sự tham gia của cộng đồng dân sự, giới truyền thông có thể giúp mở rộng những biên giới của tất cả những gì có thể thực hiện được.
Hợp tác cộng đồng Đối với các nhà thực hành thì làm việc và phối hợp chặt chẽ với các cộng đồng mình đang phục vụ là sự hợp tác quan trọng nhất. Nó cần thiết để gây dựng nên mối quan hệ bền lâu và sự ủng hộ chính trị cho các chính sách y tế hiệu quả. Đồng thời, việc hợp tác như thế tạo cơ hội cho nhân dân có thể tham gia vào các hệ thống y tế và yêu cầu có đủ dịch vụ y tế công cộng và sức khoẻ. Quan hệ đối tác này từ lâu đã bị lãng quên mặc dù nó đã từng rất phát triển ít nhất là để thuyết phục dân chúng dưới khẩu hiệu Sức khỏe cho mọi người; sự hợp tác ấy lại để lại dấu ấn do ảnh hưởng của Phong trào Sức khỏe Nhân dân.
Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới Tăng cường thực hành y tế công cộng đòi hỏi ta phải nhận thức và hành động theo các chủ đề và các chủ đề này phải truyền đạt cho cả sinh viên và cán bộ trong ngành. Một cơ cấu hỗ trợ cho y tế công cộng cần có sự lãnh đạo chặt chẽ và phản ứng nhanh của chính phủ. Nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng đầy đủ được bổ sung với nghiên cứu y tế công cộng, nhờ công tác giảng dạy và các dịch vụ có áp dụng nhiều khoa học y tế công cộng.
Củng cố lực lượng lao động trong ngành y tế công cộng cần phải có cam kết gắn liền với nền tảng triết học căn bản và năng lực được xác định rõ ràng cho từng chủ đề. Sự củng cố lúc này được đặt ở vị trí tốt hơn để tạo ra những nguồn lực mới cho việc thực hành y tế công cộng, trong đó có việc thu hút các nguồn lực thêm mới để phát triển bảo hiểm y tế và từ các quỹ mới đầu tư sức khỏe toàn cầu. Một số nguồn lực thêm này cần đầu tư trực tiếp vào xây dựng cơ sở hạ tầng y tế công cộng cần thiết. Kiểm định các chương trình đào tạo và đảm bảo sinh viên tốt nghiệp được trang bị các kiến thức cần thiết cho tất cả các lĩnh vực chuyên môn là trách nhiệm của các cơ cở đào tạo về y tế công cộng. Chỉ có một lực lượng lao động y tế công cộng vững mạnh mới có thể phản ứng được trước những thách thức về sức khỏe của quốc gia và toàn cầu. Kết luận lại, tăng cường y tế công cộng trên nền tảng đạo đức rõ ràng và cơ sở luận chứng đúng đắn sẽ phát huy vai trò của nhà nước và đóng góp vào việc xây dựng nền dân chủ trên toàn thế giới. Bảo vệ sức khỏe cho người lao động Liên bang Xô-viết, Moscow, Medgiz, 1947.
Bài báo đăng trên Tạp chí Lancet số 363 ngày 19.6.2004. Đăng dưới sự chấp thuận của Lancet. Licence No: 1796830738724.
Tài liệu tham khảo:
1. In: R Beaglehole, Editor, Global public health: a new era, Oxford University Press, Oxford (2003).
2. In: M McKee, P Garner and R Stott, Editors, International co-operation and health, Oxford University Press, Oxford (2001).
3. WHO, World Health Report, 2002: reducing risks, pro- moting healthy life, World Health Organization, Geneva (2002).
4. The Lancet, The EU's answer to future public health chal- lenges, Lancet 359 (2002), p. 2211. SummaryPlus | Full Text + Links | PDF (28 K)
5. FD Scutchfield and JM Last, Public health in North America. In: R Beaglehole, Editor, Global public health: a new era, Oxford University Press, Oxford (2003).
6. NA Vinogradov and ID Strashun, Health protection of the workers of the Soviet Union, Medgiz, Moscow (1947).
7. L Lee, V Lin, R Wang and H Zhao, Public health in China: history and contemporary challenges. In: R Beaglehole, Editor, Global public health: a new era, Oxford University Press, Oxford (2003).
8. The Lancet, Putting public health back into epidemiolo- gy, Lancet 350 (1997), p. 229. SummaryPlus | Full Text + Links | PDF (24 K)
9. D Porter, Changing disciplines: John Ryle and the mak- ing of social medicine in twentieth century Britain, Hist Science 30 (1992), pp. 119147.
10. H Waitzkin, C Iriart, A Estrada and S Lamadrid, Social medicine in Latin America: Productivity and dangers facing the major national groups, Lancet 358 (2001), pp. 315323. SummaryPlus | Full Text + Links | PDF (916 K) | View Record in Scopus | Cited By in Scopus (16)
11. C Hamlin, The history and development of public health in developed countries. In: R Detels, J McEwen, R Beaglehole and H Tanaka, Editors, Oxford textbook of pub- lic health (4th edn.), Oxford University Press, Oxford (2002).
12. D Wikler and R Cash, Ethical issues in global public health. In: R Beaglehole, Editor, Global public health: a new era, Oxford University Press, Oxford (2003).
13. NE Kass, An ethics framework for public health, Am J Public Health 91 (2001), pp. 17761782. View Record in Scopus | Cited By in Scopus (58)
14. MJ Roberts and MR Reich, Ethical analysis in public health, Lancet 359 (2002), pp. 10551059. SummaryPlus | Full Text + Links | PDF (76 K) | View Record in Scopus | Cited By in Scopus (38)
15. Sahn De and DC Stifel, Progress toward the millenium development goals in Africa, World Development 31 (2003), pp. 2325.
16. A Sen, Development as freedom, Oxford University Press, Oxford (2001).
17. AJ McMichael, Prisoners of the proximate, Am J Epidemiol 149 (1999), pp. 887897. View Record in Scopus | Cited By in Scopus (91)
18. R Beaglehole and R Bonita, Public Health at the Crossroads: Achievements and prospects (Second edition), Cambridge University Press, Cambridge (2004).
19. Bill and Melinda Gates Foundation, $ 200 million grant to accelerate research on grand challenges in global health Press release. (http://www.gatesfoundation.org/global- health/announcements) (accessed Feb 4, 2003).
20. WHO, World Health Report, 2000. Health systems: improving performance, World Health Organization, Geneva (2000).
21. Milburn A, Tackling health inequalities, improving pub- lic health. Speech to the Faculty of Public Health Medicine. London: Nov 20, 2002.
22. DA Lawlor, S Frankel and M Shaw et al., Smoking and health: does lay epidemiology explain the failure of smok- ing cessation among deprived populations, Am J Public Health 93 (2003), pp. 266270. View Record in Scopus | Cited By in Scopus (33)
23. N Milio, Public Health in the market: Facing managed care, lean government, and health disparities, University of Michigan Press, Ann Arbor, MI (2000).
24. JB McKinlay and LD Marceau, A tale of two tails, Am J Public Health 89 (1999), p. 295. View Record in Scopus | Cited By in Scopus (42)
25. LO Gostin, Public health law reform, Am J Public Health 91 (2001), pp. 13651368. View Record in Scopus | Cited By in Scopus (8)
26. R Beaglehole, Global cardiovascular disease preven- tion: time to get serious, Lancet 358 (2001), pp. 661663. SummaryPlus | Full Text + Links | PDF (60 K) | View Record in Scopus | Cited By in Scopus (34)
27. J Powles, Public health in developed countries. In: R Detels, J McEwen, R Beaglehole and H Tanaka, Editors, Oxford textbook of public health (4th Edn.), Oxford University Press, Oxford (2002).
28. C Hamlin, Commentary: John Sutherland's epidemiolo- gy of constitutions. Int, J Epidemiol 31 (2002), pp. 915919. Full Text via CrossRef | View Record in Scopus | Cited By in Scopus (2)
29. J Raeburn and S Macfarlane, Putting the public into pub- lic health: towards a more people-centred approach. In: R Beaglehole, Editor, Global public health: a new era, Oxford University Press, Oxford (2003).
30. People's Health Movement (http://www.pha2000.org) (accessed Jan 28, 2004. | |
|
| Cập nhật ngày Thứ ba, 22 Tháng 3 2011 15:54 |
- Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005
- Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H tại hai quận Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, năm 2006
- Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại
- Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










