Polls
Announcement
| Giảm sự chấp nhận của xã hội đối với hành vi hút thuốc tại Việt Nam |
| Friday, 21 August 2009 08:46 |
|
There are no translations available. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Sự chấp nhận rộng rãi về mặt xã hôi đối với hành vi hút thuốc là một thực tiễn đáng lo ngại ở Việt Nam. Công chúng, do thiếu hiểu biết thấu đáo những hậu quả về mặt sức khỏe của khói thuốc dẫn đến tình trạng chấp nhận hành vi hút thuốc ở khắp mọi nơi kể cả trường học, bệnh viện và các nơi công cộng khác. Hút thuốc và mời nhau hút thuốc được coi là một hành vi xã hội bình thường. Sự chấp nhận xã hội đối với hành vi hút thuốc khiến cho việc khuyến khích người hút cai thuốc trở nên khó khăn và cản trở các nỗ lực của Chính phủ trong việc triển khai các chính sách về cấm hút thuốc nơi công cộng. Trong khi chính phủ đã đạt được những thành công nhất định trong việc cấm quảng cáo thuốc lá và đã có một số bước tiến trong việc tăng thuế thuốc lá thì những tiến bộ trong việc thực hiện chính sách cấm hút thuốc nơi công cộng còn nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân là do hành vi hút thuốc vẫn còn được xã hội chấp nhận rộng rãi. Dự án này bổ sung vào những nỗ lực mà HealthBridge, Hội Y tế công cộng và các cơ quan, tổ chức làm PCTL của Việt Nam đã thực thiện trong quá khứ nhằm tăng cường các khu vực công cộng không khói thuốc. Dự án hỗ trợ các nỗ lực lâu dài trong việc giảm sự chấp nhận xã hội đối với hành vi hút thuốc và từ đó giảm tình trạng hút thuốc chủ động và thụ động Bên cạnh việc nhằm đến những tác động lâu dài đối với hành vi hút thuốc, dự án còn nhằm nâng cao năng lực cho Hội Y tế Công cộng Việt Nam II. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN1) Tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng về các hậu quả về mặt sức khỏe của hút thuốc chủ động và thụ động. 2) Tăng cường sự ủng hộ của cộng đồng đối với việc cấm hút thuốc nơi công cộng 3) Cải thiện hành vi của người hút thuốc (không hút thuốc trước mặt người khác) và của người không hút thuốc (tự tin trong việc lên tiếng đề nghị người khác không hút trước mặt mình. 4) Tăng cường năng lực của Hôi Y tế công cộng Việt Nam trong lĩnh vực PCTL III. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA DỰ ÁNTruyền thông phối hợp với các can thiệp hỗ trợ tại cộng đồngIV. ĐỐI TƯỢNG CỦA DỰ ÁNCông chúng là một tập hợp các nhóm đối tượng rất đa dạng. Để chương trình đạt hiệu quả cần xác định nhóm đối tượng đích tương đối đồng nhất. Chương trình thực hiện phải có nội dung và cách tiếp cận phù hợp với nhóm đối tượng đó. Căn cứ vào mục tiêu đặt ra của dự án, sau khi làm việc với các chuyên gia truyền thông, chúng tôi quyết định chọn hai nhóm đối tượng đích: - Phụ nữ 18-55 tuổi không hút thuốc - Nam giới hút thuốc 20-60 tuổi sống cùng với người không hút thuốc V. CÁC CHIẾN LƯỢC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN ĐÃ ĐƯỢC TRIỂN KHAI1) Chiến lược 1: Xây dựng các thông điệp và sản phẩm truyền thông hiệu quả, dựa vào bằng chứng và phù hợp về mặt văn hóa về tác hại của hút thuốc thụ động và chủ động và khuyến khích sự thay đổi hành vi ở người hút và người không hút thuốc: - Một nghiên cứu xây dựng thông điệp và một cuộc điều tra ban đầu đã được tiến hành tại ba tỉnh thành phố: Thái Bình, Đà Nẵng và Bến Tre trên cả các địa bàn nông thôn và thành thị để thu thập thông tin liên quan đến đối tượng đích, các biện pháp tiếp cận hiệu quả và các chỉ số dành cho đánh giá dự án. - Xây dựng thông điệp và các sản phẩm truyền thông dựa vào kết quả nghiên cứu. Một số hình ảnh sử dụng trong chiến dịch truyền thông: “ Mỗi điều thuốc đều có thể gây ra cái chết” của chính phủ Australia đã được khai thác cho việc xây dựng các mẫu quảng cáo. Thông điệp chính của dự án là: “Hãy lên tiếng vì sức khỏe của bạn và những người thân yêu” và “Hãy lên tiếng vì sức khỏe của bạn và những người xung quanh”. - Kết quả: Bẩy mẫu quảng cáo trên TV, ba mẫu quảng cáo trên đài, ba phóng sự truyền thanh và ba chương trình hỏi đáp, ba chương trình giáo dục, một mẫu tranh cổ động đã được xây dựng. Ngoài ra các tờ rơi phục vụ cho việc tuyên truyền của phụ nữ và trẻ em, kế hoạch và tài liệu giảng dậy cho học sinh tiểu học; tập “tài liệu hướng dẫn cho giáo viên tiểu học”. Tài liệu giảng dậy cho phụ nữ, hiệu trưởng và giáo viên các trường tiểu học đã được xây dựng 2) Chiến lược 2: Tiến hành chiến dịch truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cấp trung ương và địa phương: - Truyền hình: bẩy mẫu quảng cáo đã được phát luân phiên 265 lần trên truyền hình VTV1 và VTV 3 vào các khoảng giờ cao điểm từ 18h đến 19h ngoài ra được đài truyền hình các tỉnh Bến Tre phát 120 times ; Đà Nẵng 240 lần; và Thái Bình 310 lần. - Truyền thanh: mẫu quảng cáo trên truyền thanh được phát 290 lần trên các sóng của đài Tiếng nói Việt Nam. Các chương trình trên đài phát thanh (Y tế và sức khỏe cộng đồng, Gia đình và xã hội và Chương trình phát thanh phụ nữ) với loại hình: phóng sự, phỏng vấn-tọa đàm và tiểu phẩm truyền thanh đã được phát 18 lần trên đài trung ương và phát lại 48 lần trên đài truyền thanh Thái Bình. 1) Mẫu quảng cáo đã được in trên 16 số báo Lao động Cuối tuần và 16 số báo Phụ Nữ Việt Nam 2) Các tài liệu in ấn khác: 130,000 tờ rơi dùng làm công cụ truyên truyền cho phụ nữ; và 133,000 tờ rơi phát tán ra cộng đồng qua trẻ em; 1500 tờ bích trương dùng cho giáo viên cấp 1 để giảng bài cho học sinh và 4500 bản “Hướng dẫn giảng dậy về PCTL dùng cho giáo viên tiểu học” đã được phân phát. 3) Chiến lược 3: Tiến hành bổ sung chương trình giáo dục dựa vào cộng đồng tại một tỉnh nhằm củng cố các ảnh hưởng của chiến dịch truyền thông. Thái Bình đã được chọn để thực hiện mảng hoạt động này. Hai nhóm đối tượng đã được huy động: Phụ nữ thông qua Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh và học sinh cấp 1 thông qua Sở Giáo dục và Đào tạo. Đại diện hội phụ nữ các xã và hiệu trưởng các trường tiểu học trong tỉnh đã được tập huấn về tác hại của thuốc lá và cần phải hành động như thế nào để tránh phải tiếp xúc với khói thuốc thụ động. Các đối tượng này sau đó là đã đào tại lại cho các nhóm giảng viên là cán bộ phụ nữ và giáo viên tiểu học để chuyển tới đối tượng đích (phụ nữ và trẻ em). Đoàn thanh niên và Hội YTCC tỉnh cũng tiến hành nhiều hoạt động tuyên truyền hỗ trợ tại cộng đồng - 295 trường tiểu học đã tổ chức giảng cho học sinh: “Thuốc lá có hại như thế nào và làm thế nào để em không bị ảnh hưởng bởi khói thuốc lá” - 350 công tác viên của hội phụ nữ đã qua tập huấn để chuyển tải thông tin tới các hội viên của mình - Hội khuyến học của tỉnh đã tổ chức các khóa đào tạo cho 290 giảng viên của các Trung tâm giáo dục cộng đồng và các giảng viên này sau đó đã tổ chức giảng 570 lượt cho 1700 lượt người tham dự. Nội dung gồm: tác hại của thuốc lá , làm thế nào để bỏ thuốc, làm thế nào để duy trì ngôi nhà/cộng đồng không khói thuốc - Giáo trình về tác hại thuốc lá đã đưa vào chương trình của trường đào tạo lái xe. Nội dung gồm tác hại của khói thuốc, các bước thực thi chính sách không khói thuốc nơi công cộng và cách thức từ bỏ thuốc lá. Các bài học đã được dậy cho 12 lớp với 2000 học viên. Bản thân trường thực thi chính sách không hút thuốc. 4) Chiến lược 4: Hỗ trợ các sáng kiến thực hiện môi trường không khói thuốc tại địa phương · Hai hội thảo hướng dẫn thực thi môi trường không khói thuốc (xây dựng văn phòng không khói thuốc và xây dựng cơ sở y tế không khói thuốc) đã được tổ chức. · 26 cơ sở y tế, 240 trung tâm y tế xã phường và các văn phòng của 6 sở ban, ngành của tỉnh đã cam kết và triển khai thực thi môi trường không khói thuốc. Thông tin về các sự kiện này đã được phát và tuyên truyền trên truyền hình địa phương · Một buổi hòa nhạc Rock không khói thuốc đã được đoàn thanh niên tổ chức để vận động thanh niên và tuyên truyền về môi trường không khói thuốc · Câu lạc bộ: “Phụ nữ có người thân không hút thuốc đã được tổ chức ở 13 xã; Mô hình ngôi nhà không khói thuốc được triển khai ở hai xã. Một trong hai xã đó trong thời gian thực hiện dự án, 100% các đám tang và đám cưới đã thực hiện không có thuốc lá · Hai hãng cổ phần vận tải hành khách công cộng đã thực thi chính sách không khói thuốc trên các phương tiện vận chuyển 5) Chiến lược 5: Sự tham gia tích cực của Hội YTCC vào mọi bước xây dựng và thực hiện dự án. Khuyến khích xây dựng mạng lưới . Các cán bộ của Hội YTCC và HealthBridge đã làm việc như một nhóm trong từng bước thực hiện dự án: xây dựng kế hoạch triển khai; thảo luận đề cương và bộ công cụ nghiên cứu; xây dựng các sản phẩm truyền thông, giám sát NC và các hoạt động triển khai tại cộng đồng. Hội cũng tích cực tham gia vào điều phối các cuộc họp nhóm PCTL và dự nhiều hội thảo trong nước và quốc tế. Hội cũng nâng cao vai trò và uy tín của mình thông qua việc điều phối và triển khai các hoạt động PCTL tại địa phương. VI. KẾT QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁNCó 10 tác động mong đợi của dự án đã được dự kiến ban đầu. Phần lớn các tác động của dự án cần thời gian trước khi có thể đo lường được sự khác biệt. Tuy nhiên đã có thể xem xét tại thời điểm kết thúc dự án. Để đánh giá kết quả tác động của dự án, một cuộc điều tra sau can thiệp đã được triển khai. Nghiên cứu đã được tiến hành dựa trên thiết kế giống như của cuộc điều tra ban đầu, sử dụng phần lớn các câu hỏi trong bộ công cụ nhằm bảo đảm tính so sánh của các kết quả nghiên cứu. Kết quả chi tiết của nghiên cứu trước và sau can thiệp sẽ được trình bày trong bài riêng. Một số tác động của dự án không đánh giá được qua điều tra mà qua số liệu thu thập được trong thời gian thực hiện dự án Dưới đây chỉ là các kết quả về sự thay đổi của các chỉ số đánh giá tác động trước và sau dự án. Không nhất thiết phải hiểu rằng mọi sự thay đổi về kiến thức/thái độ hay hành vi của đối tượng đích quan sát được qua các nghiên cứu này đều là do tác động của dự án vì sự thay đổi về các kiến thức và hành vi đó có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và có thể là kết quả của nhiều tác động đồng thời diễn ra trước và trong thời gian thực hiện dự án. Tuy nhiên có thể chắc chắn rằng dự án đã có phần đóng góp quan trọng vào sự thay đổi đó. 1) Tác động mong muốn 1: Cải thiện hiểu biết của nhóm đối tượng đích về hậu quả về mặt sức khỏe của khói thuốc:
2) Tác động mong muốn 2: Có được sự ủng hộ của cộng đồng khi triển khai chính sách không hút thuốc nơi công cộng. Tuyệt đại đa số nam giới hút thuốc đồng ý rằng mọi người cần phải được bảo vệ khỏi tác động của khói thuốc (92.8% năm 2005 tăng lên 95.1% in 2007, p<0.05). Các tỷ lệ này ở nữ là 95.9% và 98.4%. 3) Tác động mong muốn 3: Lôi kéo sự quan tâm của giới truyền thông về PCTL Về sự tham gia trực tiếp của các phương tiện truyền thông đại chúng vào chiến dịch truyền thông của dự án đã được trình bày trong phần mô tả hoạt động của dự án. Bên cạnh đó, kết quả giám sát báo chí do HealthBridge thực hiên cho thấy, trong giai đoạn chiến dịch truyền thông được triển khai mạnh (1/5/2006 – 31/10/2006), đã ghi nhận 268 bài báo về chủ đề thuốc lá với 56 bài mang tính “tiêu cực” , 19 trung lập, và 193 “tích cực”. Con số này trong giai đoạn trước đó là (1/11/2005 – 30/4/2006) 221 bài trong đó 55 bài tiêu cực, 11 bài trung lập và 155 bài tích cực. Số liệu được ghi nhận trên qua giám sát một số lượng ổn định 65 tờ báo in và điện tử của Việt Nam. Ảnh hưởng của dự án đối với sự quan tâm của báo chí cũng không dễ dàng đánh giá một cách khách quan và sự quan tâm của báo chí với một vấn đề cũng có thể do tác động của nhiều yếu tố khác nên khó kết luận sự khác biệt trên đây là do tác động của dự án. 4) Tác động mong muốn 4: Tạo ra các sản phẩm truyền thông hiệu quả, dựa vào bằng chứng và phù hợp về mặt văn hóa để sử dụng ở Việt Nam: · Các sản phẩm truyền thông do dự án tạo ra đã được liệt kê trong phần mô tả các hoạt động của dự án. · Các thông điệp mà dự án đưa ra được xây dựng dựa trên các kết quả của một nghiên cứu được thiết kế và triển khai dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia truyền thông Úc và Việt Nam nhằm thu thập các thông tin cần thiết cho việc xây dựng sản phẩm truyền thông và thiết kế chiến dịch truyền thông. · Các sản phẩm được thiết kế và sản xuất với sự tham gia của một hãng truyền thông (Trung tâm Hợp tác báo chí truyền thông Quốc tế) có uy tín sử dụng một số tư liệu tốt của các chương trình truyền thông của Úc, được thử trên cộng đồng và điều chỉnh trước khi đưa vào sử dụng. · Để đảm bảo sự phù hợp về mặt văn hóa, toàn bộ các diễn viên tham gia là người Việt Nam, cảnh quay thực hiện trong các môi trường đặc trưng của Việt Nam và việc lồng tiếng đã được tiến hành khi phát sóng cho khu vực phía nam Tuy nhiên để có được đánh giá thực sự khách quan về các đặc tính cần thiết của một sản phẩm truyền thông hiệu quả cần có một nghiên cứu thiết kế chuyên biệt mà phạm vi của dự án này không cho phép. 5) Tác động mong muốn 5: Thu thập các bằng chứng về ảnh hưởng của các giải pháp tiếp cận khác nhau lên sự thay đổi hiểu biết và hành vi của đối tượng đích Việc chọn lựa Thái Bình để triển khai một số hoạt động tại cộng đồng bên cạnh các hoạt động truyền thông như ở các địa phương khác là một cơ hội để đánh giá tác động của các hoạt động dựa vào cộng đồng lên các kết quả đầu ra (so sánh sự thay đổi trước-sau của Thái Binh và các địa phương khác). Mặc dù tờ thừi điểm bắt đầu dự án, một số hoạt động truyền thông của một dự án khác ở Thái Bình vừa kết thúc, ngay trước khi nghiên cứu ban đầu được triển khai. Khi kết quả ban đầu được so sánh giữa các địa phương, nhiều chỉ số về hiểu biết của Thái Bình cao hơn hẳn ở các địa phương khác. Sự khác biết này có nguy cơ làm giảm mức độ thay đổi đáng ra phải có ở Thái Bình. Tuy nhiên, khi xem xét thay đổi về kiên thức và hành vi, sự thay đổi ở nam giới Thái Bình đã rõ nét hơn so với các địa phương khác 6) Tác động mong muốn 6: Tạo ra các hành vi tích cực ở người hút thuốc và người không hút thuốc trong vùng diễn ra dự án Tại Thái Bình, tỷ lệ nam giới tuyên bố trong tuần qua không hề hút thuốc trong nhà đã tăng từ 1% lên 11%. Không có sự khác biệt giữa hai kì nghiên cứu ở các địa bàn khác Tại Thái Bình, tỷ lệ nam giới khai rằng trong tuần qua không hút thuốc trước mặt vợ tăng từ 11% lên 18%. Không có sự khác biệt giữa hai kì nghiên cứu ở các địa bàn khác Tại Thái Bình, tỷ lệ nam giới khai rằng trong tuần qua không hút thuốc trước mặt đồng nghiệp tăng từ 16% lên 29%. Không có sự khác biệt giữa hai kì nghiên cứu ở các địa bàn khác. Tỷ lệ nam giới khai rằng không bao giờ hút thuốc trước mặt trẻ con luôn cao hơn tỷ lệ tuyên bố không bao giờ hút trước mặt những người phụ nữ khác trong gia đình và trước mặt động nghiệp nữ cả trong đánh giá trước và sau can thiệp. Tỷ lệ phụ nữ có phản ứng nào đó khi có người thân hút thuốc trước mặt và con cái tăng từ 88% lên 91%. Trong số đó, tỷ lệ phụ nữ yêu cầu người hút thuốc ngừng hút trước mặt mình đã tăng từ 27% năm 2005 lên 35% năm 2007. Tỷ lệ này ở Thái Bình là 38.5 và 65% Không có sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ có phản ứng nào đó khi có khách hút thuốc trong nhà giữa hai kì nghiên cứu. Tuy nhiên, trong số những người có phản ứng, tỷ lệ yêu cầu khách dừng hút đã tăng từ 17% lên 26%. Tỷ lệ này ở Thái Bình là 29% và 58% Trong số những người làm việc tại công sở, không có sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ có phản ứng nào đó khi có đồng nghiệp hút thuốc trước mặt, tuy nhiên trong số đó, tỷ lệ yêu cầu đồng nghiệp ngừng hút trong phòng làm việc tăng từ 28% lên 46%. Tỷ lệ này ở Thái Bình là 34% và 61% Vì chiến dịch truyền thông được thực hiên phần lớn qua các kênh của trung ương và trong các địa bàn nghiên cứu trừ Thái Binh, các tỉnh còn lại đã không nhận thêm can thiệp gì khác từ dự án nên từ bằng chứng nghiên cứu và nhất là bằng chứng từ tỉnh Bến tre, nơi hầu như chưa hề có tác động nào của truyền thông PCTL, có thể nói rằng dự án đã ảnh hưởng tới nhóm đối tượng đích trong cả nước. 7) Tác động mong muốn 7: Giảm sự phơi nhiễm của cộng đồng với khói thuốc thụ động Tỷ lệ phụ nữ sống chung với người hút thuốc trong vòng ba tháng trước điều tra giảm không nhiều qua hai đợt đánh giá (68% năm 2005 và 65% năm 2007; p<0.01). Trong các hộ gia đình có ít nhất một người hút trong ba tháng qua và có trẻ em dưới 16 tuổi đã có sự giảm đáng kể của tỷ lệ phụ nữ cho rằng con của họ đã phải tiếp xúc với khói thuốc thụ động ở nhà trong tuần qua từ 68% năm 2005 xuống 48% năm 2007. Tỷ lệ phụ nữ cho rằng các thành viên trong gia đình phải tiếp xúc với khói thuốc mọi nơi/mọi lúc đã giảm từ 27% xuống 16% Số ngày trung bình phơi nhiếm với khói thuốc thụ động ở nhà giảm từ 5.4 ngày/tuần xuống 3.6 ngày/tuần năm 2007), tại nơi làm việc (2.2 ngày/tuần năm 2005 xuống 1.27 ngày/tuần năm 2007) và ở nới công cộng từ1.6 ngày/tuần năm 2005 xuống 1.26 ngày/tuần năm 2007) Trong điều tra 2007 đã có 8.2% phụ nữ khai rằng có người trong gia đình họ đã bỏ thuốc trong năm qua. 6.8% nam giới khai rằng hị đã bỏ thuocs trong năm qua . 8) Tác động mong muốn 8: Tăng cường năng cực của Hội YTCC về PCTL Thông qua việc xây dựng dự án các thành viên của Hội đã học hỏi được nhiều về những vấn đề cấp thiết mang tính ưu tiên trong PCTL cũng như học hỏi về các chính sách và thực tiễn hiệu quả trong PCTL. Họ cũng học được cách phát hiện các khoảng trống và đề xuất các chiến lược để khắc phục các khoảng trống đó. Kinh nghiệm và kĩ năng trong xây dựng đề cương, lập kế hoạch hoạt động của dự án và bảo đảm khung thời gian thích hợp, tinh thần làm việc nhóm cũng được tăng cường. Họ cũng học hỏi được kinh nghiệm trong thiết kế các nghiên cứu (cả định tính và định lượng và việc lập và triển khai quy trình thu thập số liệu. Thông qua sự tham gia vào việc duyệt và nhận xét các báo cáo nghiên cứu họ cũng học được cách nhận xét có phê phán các kết quả nghiên cứu và đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng để cải thiện chất lương báo cáo. Nhóm đã đặc biệt học hỏi được nhiều trong việc tiến hành các nghiên cứu xây dựng thông điệp truyền thông từ các chuyên gia, là bước quan trọng trong xây dựng một chiến dịch truyền thông. Thông qua việc điều khiển nhóm PCTL, vai trò của Hội được thừa nhận và rõ nét hơn. Hội YTCC đã trở nên tích cực hơn trong việc thảo luận các chính sách và vấn đề trong PCTL của VN và tăng uy tín của mình trong cộng đồng làm công tác PCTL. Ở tuyến tỉnh, hội đã xây dựng uy tín của mình trong PCTL trong con mắt của các cơ quan và chính quyền địa phương và trong cộng đồng. Khả năng triển khai các chương trình YTCC có sự tham gia đa ngành đã được củng cố thông qua dự án ở cả Hội TƯ và tỉnh. 9) Tác động mong muốn 9: Mối quan hệ giữa Hội và giới truyền thông được tăng cường Thông qua việc triển khai dự án với sự tham gia của mạng lưới media do HealthBridge gây dựng, Hội đã có liên hệ thường xuyên với các chuyên viên của các cơ quan truyền thông (VTV, VOV) ở cả tuyến trung ương và tỉnh và cả các cơ quan quản lý truyền thông. Điều này giúp cho Hội và nhóm đưa tin về các hoạt động của dự án và về các kết quả nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện dự án, quan hệ với giới truyền thông ở Đà Nẵng và Thái bình cũng đã được thiết lập. 10) Tác động mong muốn 10: Kinh nghiệm về PCTL của các tổ chức/cơ quan ở các địa phương tham gia dự án được nâng cao Ở các địa phương, đặc biệt là ở Thái Bình nhiều ngành và tổ chức quần chúng lớn đã tham gia vào dự án (giáo dục, y tế, giao thông, hội phụ nữ, Thanh niên…). Bằng việc tham gia chủ động vào các hoạt động của dự án, họ đã học hỏi được nhiều, ngoài các kiến thức chuyên môn về tác hại thuốc lá, còn hiểu về sự phối hợp và phương pháp làm việc đa ngành. Kinh nghiệm về tổ chức và huy động quần chúng cũng được tăng cường. Các hội thảo được tổ chức ngoài việc mang lại kiến thức còn tạo cơ hội để trao đổi kinh nghiệm và xây dựng các quan hệ hợp tác. VII. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Dự án đã góp phần tăng cường sự hiểu biết về tác hại của khói thuốc lá cho cả hai nhóm đối tượng đích. Tỷ lệ biết về hai loại bệnh trở lên do hút thuốc chủ động và thụ động gây ra ở hai nhóm đối tượng đều tăng. Tuy nhiên, ngoài bệnh hô hấp và ung thư, hiểu biết về các loại bệnh khác còn rất hạn chế. Dự án đã có tác động đến hiểu biết ở nam giới rõ hơn ở nữ giới2. Có bằng chứng cho thấy có sự nhất trí cao ở cả người hút và người không hút về sự cần thiết phải bảo vệ những người không hút thuốc khỏi tác hại của thuốc lá. Đây chính là cơ sở để chính phủ có thể mạnh tay triển khai các chính sách cấm hút thuốc nơi công cộng3. Dự án đã góp phần xây dựng các hành vi có lợi ở cả hai nhóm đối tượng đích. Tỷ lệ nam giới khai không hút thuốc trước mặt người khác được ghi nhận có tăng lên trong quá trình thực hiện dự án ở Thái Bình. Sự ghi nhận ở các địa phương khác là chưa rõ ràng. Tỷ lệ phụ nữ có phản ứng tích cực khi có người khác hút thuốc trước mặt đã tăng đáng kể ở tất cả các địa phương, đặc biệt là ở Thái Bình.4. Tỷ lệ phụ nữ khai phải phơi nhiễm với khói thuốc thụ động cũng như thời gian phơi nhiễm trung bình đã giảm đáng kể qua thời gian thực hiện dự án. Tỷ lệ trẻ em tiếp xúc với khói thuốc thụ động cũng giảm đáng kể. Tuy nhiên, các thông tin thu thập là tự khai báo. Việc thiếu thông tin đo lường về độ ô nhiễm khói thuốc trong môi trường mà các đối tượng sống và làm việc là một hạn chế của quá trình đánh giá
Khuyến nghị:
|
| Last Updated on Friday, 21 August 2009 09:02 |
- Tăng thuế thuốc lá sẽ làm giảm tỷ lệTăng thuế thuốc lá để ngăn chặn người hút thuốc lá hút thuốc
- Nghiên cứu đánh giá tác động của việc trồng cây thuốc lá lên đồi sống, kinh tế, môi trường và sức khỏe của người nông dân Việt nam
- Mainstreaming
- Tăng cường thực thi chính sách không khói thuốc tại Việt Nam thông qua mạng lưới Hội Y tế Công cộng Việt Nam











