Main Menu
| Home |
| News |
| Journal |
| Annual conferences |
| Programs |
| Download |
| Gallery |
| Links |
| Contact us |
| Forum |
Polls
Announcement
| Đánh giá mục tiêu kiểm soát thiếu hụt Iốt sau 3 năm kết thúc dự án phòng chống các rối loạn do thiếu iốt tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai năm 2008 |
| Written by BS. Trần Thị QUỳnh Như. TS.BS. Hoàng Kim Ước. TS. Phạm Việt Cường | |||||
| Thursday, 22 October 2009 16:36 | |||||
Page 2 of 2 3.5. Thực hành của bà mẹ về việc sử dụng MI ![]() 3.4. Kiến thức của các bà mẹ về phòng chống CRLTI Có 331 bà mẹ được chọn vào nghiên cứu kiến thức, thực hành về phòng chống CRLTI đồng thời lấy mẫu muối để định lượng iốt trong muối. Tuổi trung bình của các bà mẹ là 37,8 (từ 25 đến 49). Hơn 85% là người dân tộc Kinh, số còn lại chủ yếu chủ yếu là dân tộc Jarai (14,9%). Có tới 9,1% bà mẹ mù chữ; 68,9% bà mẹ có trình độ văn hóa từ cấp II trở lên. Đa số là làm ruộng, rẫy và buôn bán (33,5% và 31,7%). 97,2% bà mẹ hiểu được thiếu iốt gây ra bệnh bướu cổ. Khoảng 50% bà mẹ biết tác hại của thiếu iốt là đần độn và chậm phát triển trí tuệ. Chỉ có 18,3% bà mẹ biết thiếu iốt có khả năng gây sẩy thai, đẻ non hoặc thai chết lưu. Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết đầy đủ các tác hại của thiếu iốt và lợi ích của việc sử dụng muối iốt đạt 16,9 và 16,3%, cao hơn so với kết quả điều tra năm 2005 (0,3%)(p < 0,05). Còn khoảng 3% bà mẹ không biết đến tác hại của thiếu iốt cũng như lợi ích của việc sử dụng MI. Chỉ có 51,1% HGĐ chỉ dùng MI để nấu ăn, 48% dùng cả MI và muối thường không có iốt. Tỷ lệ HGĐ sử dụng đơn độc muối thường là rất thấp, chiếm 0,6%. Ngoài muối iốt, tỷ lệ HGĐ có sử dụng các loại gia vị khác có iốt là khá cao, trong đó bột canh/bột nêm có iốt được sử dụng phổ biến hơn (40,2%) và nước mắm có iốt là 28,7%. Lý do bà mẹ sử dụng cả hai loại muối iốt và muối thường trong nấu ăn chủ yếu là do thói quen (44,7%), MI không có bán liên tục tại địa phương (24,2%) hoặc vì tiện cho nấu ăn và nuôi gia súc (26,1%). Nguồn cung cấp muối cho các bà mẹ học sinh ở thành phố chủ yếu là từ các cửa hàng trong phường xã (56,5%) hoặc xã lân cận (31,1%). Gần 10% đối tượng nghiên cứu được Nhà nước cấp muối miễn phí (là các hộ dân tộc thiểu số ở các xã vùng khó khăn). Việc cung cấp muối từ mạng lưới người bán rong thấp (1,5%). Có tới 85% bà mẹ trong nghiên cứu biết cách và thực hành bảo quản đúng muối iốt. Chỉ 15% bà mẹ bảo quản sai muối iốt. Tỷ lệ HGĐ bảo quản đúng cách muối iốt tăng dần theo trình độ văn hóa (p < 0,01). Tỷ lệ HGĐ bảo quản MI đúng cách ở vùng trung tâm thành phố cao hơn ở vùng xa trung tâm (p < 0,01) Tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đủ TCPB ở nhóm người dân tộc thiểu số cao hơn nhóm người Kinh (p > 0,05). Tuy vậy tỷ lệ bảo quản MI đúng cách ở nhóm người dân tộc thiểu số lại thấp hơn nhóm người Kinh (p < 0,01)
4. Bàn luận Tỷ lệ bướu cổ được WHO khuyến cáo sử dụng để đánh giá tình trạng thiếu hụt iốt của cộng đồng và là một chỉ số đánh giá ban đầu quan trọng cho biết tình trạng trầm trọng của việc thiếu hụt iốt. Nó cũng có vai trò trong việc đánh giá tác động lâu dài của chương trình PC CRLTI. Tỷ lệ bướu cổ của HS 8 - 10 tuổi TP Pleiku năm 2008 trong nghiên cứu này là 2,2 ± 0,73%, đạt mục tiêu thanh toán CRLTI. So sánh với điều tra quốc gia năm 2005, tỷ lệ bướu cổ ở HS 8 - 10 tuổi của tỉnh Gia Lai là 4% và của 5 tỉnh Tây Nguyên là 3,2% thì tỷ lệ bướu cổ HS 8 - 10 tuổi TP Pleiku năm 2008 thấp hơn hẳn (p < 0,05). Điều này cho thấy tình trạng thiếu hụt iốt tại Gia Lai đã được cải thiện dần qua các năm, và vẫn duy trì được mục tiêu thanh toán CRLTI mặc dù dự án phòng chống bướu cổ đã kết thúc 3 năm. So sánh tỷ lệ bướu cổ theo lứa tuổi thì kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bướu cổ tăng dần theo lứa tuổi, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tỷ lệ bướu cổ ở nhóm HS nam và nữ của chúng tôi đều là 2,2%, không có sự khác biệt theo giới (p > 0,05) . Điều này có thể giải thích là do đối tượng chúng tôi chọn vào nghiên cứu là 8 - 10 tuổi, nhu cầu về iốt chưa có sự khác biệt đáng kể ở các nhóm tuổi và giữa nam với nữ khi các em chưa bước vào giai đoạn dậy thì. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của nghiên cứu khác tại miền Bắc; kết quả điều tra quốc gia năm 2005 và các nghiên cứu của các tác giả về tình trạng bướu cổ HS 8 - 10 tuổi tại TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu. [1,3,5,6,7] Nồng độ iốt nước tiểu chính được WHO khuyến cáo là một chỉ số cơ bản và quan trọng để đo lường tác động của chương trình phủ muối iốt. Mức iốt niệu trung vị trong nghiên cứu này là 145 µg/L. Tỷ lệ mẫu có nồng độ iốt dưới 50 µg/L là 7%. Tỷ lệ mẫu có mức iốt niệu dưới 100µg/L là 29,3%. Tất cả các chỉ số trên đều đạt mục tiêu thanh toán và thanh toán bền vững CRLTI. So sánh với kết quả điều tra toàn quốc năm 2005 chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ mẫu có nồng độ iốt niệu lý tưởng là 53,1% cao hơn kết quả toàn quốc (35,6%) và Tây Nguyên (40,9%); tỷ lệ mẫu có nồng độ iốt niệu thừa, có hại (≥300 µg/L) là 3,8%, giảm đáng kể so với số liệu của Tây Nguyên và toàn quốc năm 2005 (20,8% và 13,6%) [1] Tỷ lệ HGĐ HS 8 - 10 tuổi sử dụng MI đạt TCPB của WHO/UNICEF/ICCIDD (150 µg iốt/10g muối) đạt 91,8%; khoảng tin cậy 95% là 88,8 - 94,8%; đạt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ phủ MI đủ TCPB của Tây Nguyên (97,7%) và toàn quốc (93,2%) năm 2005. Ngoài ra, nếu dựa vào TCPB của muối iốt của Việt Nam tại HGĐ là ≥ 200µg iốt/10g muối thì tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đạt TCPB chỉ là 83,7%, thấp hơn kết quả điều tra quốc gia năm 2005 ở Gia Lai (91,5%), ơ vùng Tây Nguyên (95,9%) và toàn quốc (91,9%). Đây là những dấu hiệu đáng lưu ý cho các nhà quản lý chương trình tại TP Pleiku và Gia Lai, đe dọa tính bền vững của chương trình trong thời gian tới. Tóm lại, dựa vào tiêu chuẩn thanh toán CRLTI của WHO có thể kết luận chương trình PC CRLTI thành phố Pleiku vẫn duy trì được mục tiêu thanh toán CRLTI : tỷ lệ bướu cổ < 5%, trung vị iốt niệu đạt từ 100 - 199 µg/L và tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đủ TCPB đạt trên 90%. Nghiên cứu cho thấy đã có một sự cải thiện về hiểu biết của các bà mẹ về CT PC CRLTI nhưng sự hiểu biết đầy đủ vẫn còn ở mức khá thấp (17%), đặc biệt ở nhóm các bà mẹ người dân tộc thiểu số (6,4%), phụ nữ nghèo (5,3%), phụ nữ có trình độ văn hóa dưới phổ thông cơ sở (9,7%). Điều này một phần cho thấy tác động không bền vững của các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng về chương trình PC CRLTI. Nên chăng trong thời gian tới nội dung truyền thông nên tập trung tuyên truyền vào các tác hại do thiếu iốt khác ngoài bệnh bướu cổ để nâng cao nhận thức của người dân. Cần có những kênh truyền thông riêng phù hợp cho các đối tượng phụ nữ người dân tộc thiểu số, có trình độ văn hóa thấp. Mặc dù tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đủ TCPB tại TP Pleiku đạt mục tiêu đề ra nhưng việc gần một nửa số HGĐ sử dụng đồng thời cả hai loại: MI và muối thường, cho thấy đây là một nguy cơ đe dọa tình trạng thu nhập iốt đầy đủ của cộng đồng. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ HGĐ sử dụng MI đủ TCPB ở nhóm bà mẹ người dân tộc thiểu ca hơn nhóm bà mẹ người Kinh do ở địa phương có chế độ cấp không MI cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã khó khăn. Tuy vậy tỷ lệ HGĐ bảo quản đúng MI ở nhóm bà mẹ người dân tộc thiểu số lại thấp hơn hẳn nhóm bà mẹ người Kinh. Trong tương lai cần phải có những thay đổi về truyền thông cho phù hợp ở nhóm đối tượng này, đặc biệt khi mà các xã khó khăn đã không còn nằm trong diện được cấp không MI nữa.
5. Chúng tôi có một số khuyến nghị sau: - Tiếp tục duy trì các hoạt động PC CRLTI tại TP Pleiku và tỉnh Gia Lai để duy trì bền vững các thành quả đạt được. Đảm bảo kinh phí hoạt động giám sát, đánh giá của chương trình tại thành phố Pleiku cũng như tỉnh Gia Lai. Có sự hỗ trợ kinh phí và chuyên môn của tuyến trung ương cũng như từ các ban ngành liên quan. - Tiếp tục chính sách trợ giá, trợ cước và cấp không muối iốt. Đối tượng được cấp không muối iốt nên mở rộng thêm cho cả hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo không cư trú ở xã thuộc vùng khó khăn. - Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về chương trình PC CRLTI cần được tăng cường cả về nội dung lẫn hình thức để có thể tiếp cận được các đối tượng nhạy cảm như bà mẹ người dân tộc thiểu số, các bà mẹ sống ở vùng xa trung tâm thành phố, các bà mẹ có trình độ học vấn thấp. - Tăng cường thực hiện công tác giám sát muối tại khâu bán lẻ. - Thực hiện nghiêm túc các hoạt động đánh giá thông qua điều tra KAP và điều tra bướu cổ học sinh 8 - 10 tuổi định kỳ 3 - 5 năm/ lần nhằm phát hiện kịp thời nếu tình trạng thiếu hụt iốt quay trở lại.
Tài liệu tham khảo:
Tiếng Việt:
1. Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước và cs (2007), Nghiên cứu đánh giá tỷ lệ bướu cổ, iốt niệu trung vị ở trẻ em 8 - 10 tuổi tại 7 vùng sinh thái Việt Nam năm 2005. Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3; 9-10/11/2007; Hà Nội, NXB Y học.
2. Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước và cs (2007), Nghiên cứu kiến thức thực hành sử dụng muối iốt và các chế phẩm có iốt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Việt Nam năm 2005, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3; 9-10/11/2007; Hà Nội, NXB Y học.
3. Trần Thanh Bình (2007), Khảo sát tỷ lệ bướu cổ học sinh sau 10 năm thực hiện chương trình phòng chống bướu cổ tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3; 9-10/11/2007; Hà Nội, NXB Y học.
4. Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Trí Dũng, Lê Kim Chiêng, Lương Quỳnh Hoa (2002), "Nghiên cứu tình trạng thu nhập iốt ở học sinh tiểu học tại một phường thuộc nội thành Hà Nội", Tạp chí Nội tiết và các rối loạn chuyển hóa, (số 5 - 2002), tr 37-43.
5. Lâm Thanh Hoàng, Nguyễn Công Bộ, Nguyễn Minh Hùng và cộng sự (2007), Đánh giá hiệu quả phòng bệnh bằng muối iốt trong chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iốt tại tỉnh Kiên Giang (1995 - 2003). Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3; 9-10/11/2007; Hà Nội, NXB Y học.
6. Nguyễn Tuấn Khanh (2002), Đánh giá thực trạng thiếu hụt iốt ở trẻ em 8 - 10 tuổi tại một xã đồng bằng và sự liên quan của nó với sử dụng muối iốt, bột canh iốt tại hộ gia đình. Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Đại học Y tế Công cộng Hà Nội
7. Nguyễn Thị Nhàn và cs (2007), Đánh giá thực trạng thiếu iốt ở học sinh 8 - 10 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2005. Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành Nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3; 9-10/11/2007; Hà Nội, NXB Y học.
Tiếng Anh:
8. WHO - Nutrition Unit Division of Food and Nutrition (1996), Recommended iodine levels in salt and guidelines for monitoring their adequacy and effectiveness WHO/NUT/96.13.
9. WHO, UNICEF, ICCIDD (2007), Assessment of Iodine Deficiency Disorders and Monitoring their Elimination, WHO, Geneva. |
|||||
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:57 |
- TIN HOẠT ĐỘNG HỘI Y TẾ CÔNG CỘNG VIỆT NAM
- Kết hợp đa ngành: Một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các chương trình can thiệp y tế công cộng
- Phơi nhiễm thụ động với thuốc lá ở phụ nữ và trẻ em tại gia đình
- Nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống sốt xuất huyết tại xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, 2006 - 2008
- Suy dinh dưỡng thấp còi và thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em 6 - 36 tháng tuổi tại 2 xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá chương trình đào tạo nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh Bạc Liêu năm 2007
- Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới và ở Việt Nam
- Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc











