Tiếng Việt (Vietnamese)
Banner

Polls

Content of the VPHA's website
 

Announcement

Latest report of the Vietnam Public Health Association was updated here. Please pay attention.

Upcoming Events

<<  May 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Publications

an pham
Content View Hits : 211409
Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay  E-mail
Written by Phạm Trí Dũng   
Wednesday, 21 October 2009 18:39
Article Index
Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay
Page 2
Page 3
All Pages
There are no translations available.

 

Sự chuyển đổi nền kinh tế đã đem lại những thành tựu đáng kể trong mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Những thành công trong lĩnh vực y tế đã góp phần làm tăng nhanh chỉ số phát triển con người của quốc gia, thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực y tế được đánh giá tốt hơn hẳn những nước khác có mức độ phát triển tương tự. Hệ thống bệnh viện đã được củng cố và phát triển thông qua việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo cán bộ. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống bệnh viện ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa hiệu quả. Nguyên nhân có thể là do đầu tư cho các bệnh viện chưa đáp ứng nhu cầu và do thực trạng quản lý bệnh viện chưa tốt, công tác giám sát còn nhiều bất cập.

 

Triển khai tự chủ bệnh viện đã đạt được những kết quả ban đầu, tuy nhiên cũng bộc lộ những bất cập, cần được nghiên cứu, đánh giá trên quan điểm: "Công bằng, hiệu quả và phát triển" của cả hệ thống y tế nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung. Kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2006, trong lĩnh vực dịch vụ y tế, kể cả dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, chúng ta đang triển khai thực hiện các cam kết song phương và đa phương. Việt Nam đã ký Hiệp định khung về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về người hành nghề điều dưỡng giữa các nước ASEAN và chuẩn bị ký 2 Hiệp định khung về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về người hành nghề y và nha khoa giữa các nước ASEAN. Đa sở hữu trong hệ thống khám chữa bệnh nói chung, hệ thống bệnh viện nói riêng là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng phân tầng xã hội và thực hiện các cam kết quốc tế với tư cách là một thành viên của WTO. Công hay tư chỉ là phương tiện để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước về nâng cao sức khỏe nhân dân. Luật khám bệnh, chữa bệnh sẽ ra đời nhằm tạo cơ sở pháp lí cao nhất cho sự phát triển và quản lí hệ thống cung cấp dịch vụ KCB nói chung, bệnh viện nói riêng. Bài viết này nhằm phác họa một vài nét về hệ thống bệnh viện Việt Nam hiện nay trong một số lĩnh vực cơ bản.

Từ khóa: bệnh viện, hệ thống bệnh viện Việt Nam, công bằng, hiệu quả và phát triển, cơ sở và trang thiết bị y tế, tự chủ bệnh viện, sử dụng dịch vụ bệnh viện, giường bệnh, chất lượng chăm sóc sức khỏe, nhân lực bệnh viện, tài chính bệnh viện.

Overview of current Viet Nam hospital system

The economic reforms have brought significant improvements in all aspects of socio-economic life of Viet Nam. Achievements recorded in the Vietnamese health care sector have contributed to the fast increase of the national Human Development Index and were evaluated to be distinctively better than those in countries with similar growth. The hospital system has been improved and developed through investments in infrastructure, facilities, and human resource training. However, impropriety and inefficiency are still found in this hospital system operation, which may be due to inadequate investments, ineffective hospital management and improper hospital monitoring.

 

Although hospital autonomy has achieved many promising results, its impropriety has still been observed. This needs to be investigated and evaluated with the principles of "Equality, Effectiveness and Development" for the health care system as well as the socio-economic development in Viet Nam. Since Viet Nam officially became a member of the World Trade Organization (WTO) in 2006, within the health care service field, we have been carrying out many bilateral and multilateral agreements. Viet Nam signed the mutual recognition agreement (MRA) on Nursing practitioners and is planning to sign MRA on Medical Practitioners and MRA on Dental Practitioners between or among ASEAN countries.

 

As a member of WTO, multiple ownerships in the medical service system in general and in the hospital system in particular are objectively indispensable to follow the social stratification and the international agreements. Public or private hospital systems have been used as different tools to improve public health. Law on Medical Examination and Treatment will be adopted in order to build a legal framework for development and management of health care and hospital service delivery systems. This article aims to provide an outline of the current Viet Nam hospital system in some aspects.

 

Key words: hospital, Viet Nam hospital system, equality, effectiveness and development, health care facility, hospital autonomy, hospital service utilization, hospital bed, health care quality, hospital financing.

 

 

1. Đặt vấn đề

Sự chuyển đổi nền kinh tế đã đem lại những thành tựu đáng kể trong mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều đổi mới và tiến bộ, phục vụ nhu cầu phòng bệnh và khám chữa bệnh (KCB) của đại đa số nhân dân, từng bước khống chế và thanh toán các dịch bệnh, kể cả các dịch bệnh nguy hiểm. Hầu hết các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản đã đạt và vượt so với mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2001 - 2005 như: tuổi thọ trung bình, chết trẻ em dưới 1 tuổi, chết trẻ em dưới 5 tuổi. Những thành công trong lĩnh vực y tế và giáo dục đã góp phần làm tăng nhanh chỉ số phát triển con người của quốc gia, thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực y tế được đánh giá tốt hơn hẳn những nước khác có mức độ phát triển tương tự.

Chuyển sang một nền kinh tế thị trường từ một hệ thống y tế bao cấp, y tế Việt Nam đang gặp phải những thách thức rất lớn. Đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân luôn là một vấn đề lớn của tất cả các nước đang phát triển và cả các nước phát triển. "Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân từ nay đến năm 2000 và tầm nhìn 2020" đã xác định: "Thách thức của ngành Y tế là phải đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ngày càng cao. Đảm bảo công bằng về CSSK cho nhân dân và giữ được bản chất nhân đạo của chế độ trong điều kiện nền kinh tế thị trường vừa là một vấn đề cấp bách, vừa là một chính sách lâu dài".

Bệnh viện là cơ sở chiếm phần lớn nguồn ngân sách của toàn ngành Y tế, chất lượng dịch vụ bệnh viện ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người dân. Bệnh viện là bộ mặt của ngành Y tế, chính vì vậy luôn giành được sự quan tâm lớn của Chính phủ, Bộ Y tế và người dân. Trong những năm gần đây, hệ thống bệnh viện đã được củng cố và phát triển thông qua việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo cán bộ. Số bệnh viện và giường bệnh tiếp tục tăng để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người dân và góp phần chữa trị, cứu sống được nhiều người có bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống bệnh viện ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa hiệu quả. Nguyên nhân có thể là do đầu tư cho các bệnh viện chưa đáp ứng nhu cầu và do thực trạng quản lý bệnh viện chưa tốt, công tác giám sát việc thực hiện các quy chế và các quy định ở các cơ sở KCB chưa thường xuyên. Để phát huy tính năng động và tự chủ của các đơn vị sự nghiệp có thu, Chính phủ ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP, ngày 16/01/2002, tiếp theo là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006: "Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập". Triển khai tự chủ bệnh viện đã đạt được những kết quả ban đầu, tuy nhiên cũng bộc lộ những bất cập, cần được nghiên cứu, đánh giá trên quan điểm: "Công bằng, hiệu quả và phát triển" của cả hệ thống y tế nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung.

Năng lực quản lí và cán bộ quản lý của các bệnh viện cũng còn nhiều bất cập, chính vì vậy Nghị quyết số 46 - NQ/TW của Bộ Chính trị về: "Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới" đã nhấn mạnh đến công tác quản lí và tập trung vào quản lý bệnh viện: "...chú trọng đào tạo cán bộ quản lý y tế, nhất là cán bộ quản lý bệnh viện".

Kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) năm 2006, chúng ta đang từng bước thực hiện đầy đủ các văn bản của WTO như Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), Thỏa thuận về các rào cản kĩ thuật đối với thương mại (TBT, SPS). Như vậy, Trong lĩnh vực dịch vụ y tế, kể cả dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, chúng ta phải áp dụng GATS, TBT để: "Thực hiện các biện pháp được tổ chức (công hay tư) nhằm phòng chống dịch bệnh, nâng cao sức khỏe và tuổi thọ của toàn thể nhân dân" .

Mặt khác, Việt Nam đã ký Hiệp định khung về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về người hành nghề điều dưỡng giữa các nước ASEAN vào tháng 8 năm 2006 và cam kết thực hiện vào tháng 7 năm 2009. Việt Nam cũng đang chuẩn bị ký 2 Hiệp định khung về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về người hành nghề y và nha khoa giữa các nước ASEAN.

Về mặt nhận thức không nên phân biệt về công hay tư trong hệ thống y tế. Công hay tư chỉ là phương tiện để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước về nâng cao sức khỏe nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, đa sở hữu trong hệ thống khám chữa bệnh nói chung, hệ thống bệnh viện nói riêng là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng phân tầng xã hội và thực hiện các cam kết quốc tế với tư cách là một thành viên của WTO.

Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội đã giao cho Chính phủ và Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành liên quan soạn thảo Dự án Luật khám bệnh, chữa bệnh. Luật khám bệnh, chữa bệnh ra đời nhằm tạo cơ sở pháp lí cao nhất cho sự phát triển và quản lí hệ thống cung cấp dịch vụ KCB nói chung, bệnh viện nói riêng.

Bài viết này nhằm phác họa một vài nét cơ bản của hệ thống bệnh viện Việt Nam hiện nay về một số lĩnh vực.

 

2. Hệ thống bệnh viện Việt Nam

Sự phát triển hệ thống bệnh viện gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống y tế, bệnh viện giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Hệ thống bệnh viện Việt Nam gồm chủ yếu là các bệnh viện công (chiếm 93,3%). Các bệnh viện tư bao gồm cả bệnh viện bán công và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài mới chỉ chiếm 3,7% bệnh viện và 2,2% giường bệnh trong cả nước. Ngoài ra còn có 22 bệnh viện đã được cấp phép đang tiến hành xây dựng. Số lượng các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều nhưng quy mô còn nhỏ. Tỷ lệ bệnh viện tư và giường bệnh tư của Việt Nam là rất thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan (30% và 22,5%), Indonesia (42% và 32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%) [11].

Song song với bệnh viện thuộc Bộ Y tế, còn có bệnh viện do các bộ, ngành khác quản lý như Quân đội, Công an, Bưu điện, Giao thông, Gang thép, May mặc...Các bệnh viện này thường là bệnh viện đa khoa và điều dưỡng phục hồi chức năng, chủ yếu phục vụ cho cán bộ công nhân viên của bộ, ngành đó. Quy mô của bệnh viện thường ở mức trung bình và nhỏ.


 

Hiện nay, Việt Nam có 1.024 bệnh viện công với 126 772 giường bệnh, được đầu tư nhiều trang thiết bị (TTB) hiện đại nhưng so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu. Ở khu vực tư nhân, đến nay cả nước có 68 bệnh viện với hơn 4.000 giường bệnh, hơn 30.000 phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân [8].

Đối với các cơ sở KCB công còn chưa có quy định điều kiện cụ thể để cấp giấy phép hoạt động. Nhiều cơ sở KCB công không đạt điều kiện, đặc biệt là điều kiện về cơ sở vật chất, xử lý chất thải. Trong khi đó các cơ sở KCB tư nhân muốn hoạt động được phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới được cấp phép. Chính vì vậy cần thiết phải có cơ sở pháp lý để đảm bảo nâng cao chất lượng và bình đẳng giữa hai khu vực khám bệnh, chữa bệnh công và tư. Bộ Y tế đang phối hợp với các bộ, ngành khác triển khai việc dự thảo Luật Khám bệnh, chữa bệnh nhằm hoàn thiện bộ khung pháp lý cho lĩnh vực này trong thời gian tới.

Hệ thống bệnh viện công được phân cấp quản lý hành chính và phân tuyến kỹ thuật từ trung ương đến địa phương. Tuyến quận/huyện thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe cơ bản, mang tính đa khoa. Tuyến tỉnh/thành phố thực hiện chăm sóc sức khỏe với các kỹ thuật phức tạp hơn, mang tính chuyên khoa, tiếp nhận người bệnh do tuyến huyện chuyển đến. Tuyến trung ương là tuyến cuối cùng, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến 2 chuyển lên.

Bệnh viện tuyến cao hơn được phân bổ nhiều ngân sách hơn, được cung cấp TTB và thuốc men tốt hơn, thu hút nhiều nhân viên y tế giỏi hơn. Vì vậy, người bệnh thường bỏ qua tuyến cơ sở để đến KCB ở tuyến tỉnh và trung ương khiến các bệnh viện tuyến trên luôn ở trong tình trạng quá tải và thực hiện nhiều kỹ thuật y học đơn giản hơn so với quy định về phân tuyến kỹ thuật.

Hệ thống các bệnh viện công lập được giữ vững củng cố và phát triển, nhiều cơ sở đã được đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới, bước đầu khắc phục được tình trạng xuống cấp, thiếu hụt giường bệnh. Thiết bị dùng cho chẩn đoán và điều trị cơ bản tại bệnh viện tuyến huyện, một số thiết bị hiện đại, chuyên sâu cho bệnh viện tỉnh, trung ương đã được đầu tư, mua sắm. Cùng với việc triển khai tốt công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới đã giúp cho nhiều bệnh viện nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng chẩn đoán và điều trị, nhiều kỹ thuật mới và phức tạp đã được thực hiện thành công, trình độ và kỹ thuật y tế Việt Nam đang dần tiến bộ ngang với các nước trong khu vực, góp phần chữa trị và cứu sống được nhiều người bệnh hiểm nghèo.

Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, quy mô giường bệnh và khả năng chuyên môn kỹ thuật các bệnh viện được phân thành 5 hạng: Hạng đặc biệt, hạng I, hạng II, hạng III và hạng IV (Bộ Y tế, Thông tư số 23/2005/TT-BYT). Hạng đặc biệt và hạng I là hạng cao nhất bao gồm một số bệnh viện có quy mô quá lớn, TTB hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện trung ương Huế…, hạng IV là thấp nhất gồm nhóm các bệnh viện chưa xếp hạng vì chưa đạt tiêu chuẩn xếp hạng III.

Hệ thống bệnh viện chuyên khoa Việt Nam khá phát triển và cũng được phân cấp thành tuyến trung ương và tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Các chuyên khoa thường là sản, nhi, lao, da liễu, tâm thần, các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Đặc biệt, hệ thống YHCT rất phát triển và bao phủ hầu hết các tỉnh/thành phố. Hiện nay các bệnh viện chuyên khoa chiếm 25% tổng số bệnh viện của Việt Nam [11].

Nhìn chung các bệnh viện Việt Nam có quy mô nhỏ. Số bệnh viện dưới 100 giường chiếm gần 70% (570 bệnh viện). Số bệnh viện có quy mô 101 - 300 giường chiếm 20% (165 bệnh viện); số giường từ 300 - 500 giường chiếm 7,2%; số từ 501 - 700 giường chiếm 2,4% (20 bệnh viện). Có 8 bệnh viện trên 700 giường, khoảng 1%, trong đó có 3 bệnh viện có quy mô trên 1.000 giường là Bạch Mai, Trung ương Huế và Chợ Rẫy [1]. So với quy mô giường bệnh của các bệnh viện của một số nước trong khu vực cũng rất khác nhau: số giường bình quân của bệnh viện Malaysia là 288 giường, của Trung Quốc là 138,7 [19].



Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:58
 
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat