Polls
Announcement
| Hành vi tìm kiếm các hình thức khám chữa bệnh viêm đường sinh dục của phụ nữ tại Chí Linh, Hải Dương |
| Written by Ths. BS. Đỗ Mai Hoa | |
| Friday, 30 October 2009 18:06 | |
|
There are no translations available. Tóm tắt Viêm đường sinh dục (VĐSD) là một trong những vấn đề sức khoẻ cần phải quan tâm của phụ nữ Việt Nam. Một cuộc điều tra năm 2000 do trường Đại học Y tế Công cộng tiến hành với 378 phụnữ đã từng lấy chồng từ 18-49 tuổi, tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cho thấy tỉ lệ mắc bệnh VĐSD dựa trên chẩn đoán lâm sàng là 42,6%. Nhằm mô tả việc khám chữa bệnh (KCB) VĐSD của phụ nữ huyện Chí Linh và tìm hiểu các yếu tố liên quan, nghiên cứu này đã kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu nhân học và phân tích sâu các kết quả từ cuộc điều tra năm 2000. Số liệu điều tra cho thấy, mặc dù có tới 161 phụ nữ (42,6%) được chẩn đoán bị bệnh VĐSD, chỉ có 72 phụ nữ cho rằng họ có các dấu hiệu của các bệnh VĐSD, và chỉ có 36% trong số phụ nữ này (26/72) đi khám chữa bệnh. Trong khi đó, nghiên cứu nhân học đã được tiến hành trên cùng nhóm đối tượng này cũng tìm ra một trong những yếu tố làm cho phụ nữ không điều trị bệnh sớm là do họ không nhận biết được các dấu hiệu bệnh hoặc họ cho rằng các dấu hiệu của bệnh VĐSD như khí hư âm đạo hoặc đau hạ vị là những dấu hiệu bình thường tự nhiên. Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng khác nhau như phụ nữ, nam giới và các cán bộ y tế còn cho thấy các đợt chiến dịch "kế hoạch hóa gia đình" được tiến hành sáu tháng một lần cũng làm cho phụnữ trở nên thụ động với bệnh mà mình đang mắc vì họ thường cố chờ đến các đợt chiến dịch để được nhận thuốc và khám phụ khoa không mất tiền. Các yếu tố khác, như chất lượng dịch vụ y tế chưa tốt, can thiệp giáo dục sức khoẻ không phù hợp, hạn chế về thời gian, nghèo túng và bất bình đẳng về giới cũng đã được tìm thấy là những yếu tố cản trở phụ nữ tại Chí Linh điều trị bệnh VĐSD sớm và đúng cách. Dựa trên các kết quả tìm ra từ nghiên cứu này, cần giảm bớt các yếu tố cản trở trên và tăng cường các can thiệp phòng chống bệnh VĐSD nữ như giáo dục sức khỏe, đào tạo, tư vấn.
Abstract Reproductive Tract Infections (RTIs) are the major women's health problem in Viet Nam. A commu- nity-based survey was conducted in 2000 by the Hanoi School of Public Health with 378 married women at the age between 18 - 49 in Chi Linh district of Hai Duong province and revealed a RTI prevalence rate of 42.6% based on clinical diagnosis. In order to explore women's health seeking behaviors and related contextual factors, this study combined an in-depth analysis of 2000 survey data and another ethnographic research. The survey data showed that though 161 women (42.6%) were diagnosed with RTIs, only 72 women reported experiencing RTI symptoms and only 36% of them (26/72) sought care from health providers. Other women either ignored their symptoms or practiced self-treatment (64%). On the other hand, the ethnographic study with the same target group of women found out that reasons for women not seeking early treatment included the lack of their recognitions of RTI symptoms or their perception that vaginal discharge and pelvic discomfort were natural occurrences. Besides, interviews with different groups of women, men and health staff revealed that most women with RTIs did not seek treatment immediately because they passively waited for the fam- ily planning campaigns, regularly conducted twice a year, where they could get free consultations and medicines. Contextual factors such as poor quality of health services, inappropriate health edu- cation, time constraint, poverty and gender inequity are barriers that have contributed to women's poor utilization of health services. It is necessary to mitigate these barriers and strengthen more effective RTI interventions such as health education, formation and counseling.
1. Đặt vấn đề VĐSD là một loại bệnh nhiễm khuẩn bao gồm viêm nội sinh (là các loại viêm gây ra bởi sự tăng trưởng quá mức bình thường của các tế bào thuộc đường sinh dục và viêm ngoại sinh do các can thiệp y tế gây ra. VĐSD còn bao gồm cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có cả nhiễm HIV/AIDS (1,2,3). Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy VĐSD là bệnh rất phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, nơi điều kiện vệ sinh và các phong tục tập quán vẫn còn nhiều hạn chế (1,4). Tuy nhiên, vẫn chưa có những con số chính xác về tỉ lệ mắc bệnh trên dân số toàn quốc. Tùy thuộc vào các vùng địa dư hoặc các phương pháp chẩn đoán bệnh, các con số về tỉ lệ bệnh thu được là rất khác nhau. Đối với các nghiên cứu được chẩn đoán dựa vào các xét nghiệm, tỉ lệ bệnh dao động từ 30 đến 63% với các phụ nữ đến khám tại các cơ sở y tế. Còn với các nghiên cứu dựa trên chẩn đoán lâm sàng, thì tỉ lệ mắc của phụ nữ nói chung là 21 đến 61%(3). Một điều tra cộng đồng do trường Đại học Y tế Công cộng tiến hành với 378 phụ nữ đã từng lấy chồng trong độ tuổi 18-49 tại các hộ gia đình thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cho thấy tỉ lệ mắc bệnh VĐSD dựa trên chẩn đoán lâm sàng là 42,6%(5). Với tỉ lệ mắc bệnh cao như vậy, việc tìm hiểu về việc khám và điều trị bệnh VĐSD của các phụ nữ ở đây và các yếu tố liên quan là hoàn toàn cần thiết. Nghiên cứu này đã được tiến hành với hai mục tiêu là mô tả hành vi khám chữa bệnh của các phụ nữ bị VĐSD tại Chí Linh và xác định một số yếu tố liên quan đến việc mắc bệnh VĐSD và hành vi khám chữa bệnh của họ để đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng điều trị và phòng bệnh VĐSD tại Chí Linh.
2. Phương pháp Nghiên cứu này đã kết hợp giữa việc phân tích sâu các dữ liệu liên quan từ cuộc điều tra năm 2000 và thu thập thêm các thông tin và số liệu cần thiết thông qua các kĩ thuật nghiên cứu nhân học vào năm 2001. Dữ liệu của cuộc điều tra: Phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong cuộc điều tra này là phương pháp chọn mẫu cụm. Ba mươi cụm (ứng với đơn vị là làng) đã được chọn từ tất cả các xã trong huyện Chí Linh thông qua quá trình chọn mẫu bằng phương pháp "Chọn mẫu xác xuất tỉ lệ theo kích thước quần thể - PPS". Tổng số 378 phụ nữ đại diện cho quần thể nghiên cứu là các phụ nữ đã từng lấy chồng, không mang thai, tuổi từ 18 đến 49 đã được phỏng vấn về tiền sử mắc bệnh VĐSD, việc sử dụng các biện pháp tránh thai, các yếu tố liên quan đến bệnh VĐSD và việc lựa chọn các cách điều trị bệnh. Bên cạnh đó, tất cả các phụ nữ này còn được khám phụ khoa để chẩn đoán xem họ có bị mắc bệnh VĐSD tại thời điểm điều tra hay không. Thông tin thu được đã được phân tích bằng phần mềm SPSS. Các thuật toán thống kê như phân bố tần số đã được sử dụng để mô tả và so sánh các đặc điểm của nhóm phụ nữ mắc bệnh và không mắc bệnh VĐSD và đặc điểm của các nhóm phụ nữ lựa chọn các hình thức điều trị VĐSD khác nhau. Ngoài ra, phân tích hồi quy logistics được sử dụng để tìm kiếm mối liên quan giữa các yếu tố với bệnh VĐSD và các hình thức điều trị của phụ nữ tại Chí Linh. Tuy nhiên, do mục tiêu của cuộc điều tra năm 2000 khác với nghiên cứu này nên các thông tin thu được chưa đề cập đến tất cả các yếu tố có liên quan. Thêm vào đó, trong tổng số 378 phụ nữ, số lượng phụ nữ trong các nhóm sử dụng các hình thức điều trị khác nhau là quá nhỏ nên không thể tiến hành phân tích các yếu tố liên quan được.Ngoài ra, bệnh VĐSD và việc điều trị bệnh VĐSD là những chủ đề tương đối nhạy cảm, liên quan tới các yếu tố tâm lý, cảm xúc, bình đẳng giới hay các yếu tố văn hoá đã không được khai thác thông qua bộ câu hỏi của cuộc điều tra. Nghiên cứu nhân học: Để khắc phục một số hạn chế trên, các kĩ thuật nghiên cứu nhân học đã được tiến hành nhằm thu thập được các thông tin sâu hơn và các thông tin còn đang thiếu giúp cho nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra. Đối tượng chính của nghiên cứu nhân học cũng chính là nhóm đối tượng của cuộc điều tra 2000, họ là các phụ nữ đã từng lấy chồng, không mang thai, trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 đến 49. Để có cơ sở đối chiếu và liên kết các thông tin thu được từ các nguồn khác nhau, 22 phụ nữ đã được yêu cầu tham gia nhiều kĩ thuật nghiên cứu nhân học khác nhau (như "liệt kê tự do", "phân nhóm", "phỏngvấn sâu", "thảo luận nhóm"). Thêm vào đó, kĩ thuật phỏng vấn sâu còn được tiến hành với nhiều loại đối tượng khác như đàn ông và các cán bộ y tế tuyến huyện và xã của Chí Linh. Việc lựa chọn các đối tượng nhằm mục đích thu nhận được thông tin đa dạng nhất trong điều kiện thời gian và nguồn lực cho phép. Vì vậy, kĩ thuật lựa chọn đối tượng dựa trên sự khác biệt về tuổi, giới, địa bàn nơi họ sinh sống và vai trò của họ trong việc sử dụng các dịch vụ y tế để điều trị bệnh. Việc tham gia của các đối tượng đều là hoàn toàn tự nguyện. Trước khi các cuộc phỏng vấn được tiến hành, các đối tượng đều được giải thích rõ về mục tiêu, ý nghĩa của nghiên cứu, và quá trình phỏng vấn mà họ sẽ tham gia. Sau đó họ được yêu cầu kí vào "Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu". Để giúp cho các đối tượng cảm thấy được thoải mái hơn trong khi chia sẻ các thông tin đặc biệt là các vấn đề nhạy cảm, việc thu thập thông tin đã được tiến hành do nghiên cứu viên cùng giới với đối tượng. Các cuộc phỏng vấn đều được ghi âm lại sau đó được gỡ băng và phân tích bằng phần mềm Open code. Các kĩ thuật như "mã hoá theo bậc" và "bảng ma trận" đã được sử dụng trong quá trình phân tích để mô tả và tìm hiểu mối quan hệ giữa các phương thức điều trị bệnh VĐSD mà phụ nữ ở Chí Linh lựa chọn và các yếu tố liên quan đến sự quyết định của họ trong việc sử dụng các hình thức đó.
3. Kết quả và bàn luận 3.1. Nhận biết và quan niệm của phụ nữ Chí Linh về bệnh VĐSD và các yếu tố liên quan đến bệnh VĐSD 3.1.1. Nhận biết về các dấu hiệu hoặc các triệu chứng bệnh Kết quả điều tra cho thấy, khi phỏng vấn 378 phụ nữ thì có 72 (19%) cho rằng họ có dấu hiệu của bệnh VĐSD trong 3 tháng qua. Các dấu hiệu được mô tả bao gồm bất thường của dịch âm đạo, đau hạ vị, ngứa và viêm loét bộ phận sinh dục. Còn kết quả thăm khám phụ khoa cho thấy 161 phụ nữ (42,6%) được chẩn đoán là mắc các bệnh VĐSD, tuy nhiên chỉ có 31,7% số phụ nữ này (51/161) kể rằng họ có các dấu hiệu của bệnh VĐSD. Điều này chứng tỏ, trong số những phụ nữ được chẩn đoán là mắc các bệnh VĐSD, có đến 68,3% (110 phụ nữ) hoặc đã không nhận biết được các dấu hiệu về bệnh của mình hoặc là họ đã tự chấp nhận các dấu hiệu bệnh là những dấu hiệu bình thường tự nhiên. Kết quả trên cũng hoàn toàn phù hợp với kết quả của nghiên cứu nhân học. Nhiều phụ nữ ở Chí Linh tin rằng bệnh VĐSD (hay còn gọi là bệnh "phụ khoa", bệnh "viêm", bệnh "phụ nữ", bệnh "huyếttrắng" theo ngôn ngữ địa phương) là "bình thường", "không quan trọng", đó là bệnh "mãn tính", "thường xuyên", "ai chẳng mắc". Do vậy mà nhiều phụ nữ không đi KCB, không tìm đến dịch vụ y tế hoặc bỏ thuốc trong quá trình điều trị. Một phụ nữ ở thị trấn Sao Đỏ thường bị VĐSD và chị ta có suy nghĩ về bệnh của mình như sau "bệnhcủa tôi chẳng nặng, chỉ có hơi đau và bẩn một chút, mà phụ nữ có chồng, ai chẳng thế, nên tôi không dùng thuốc và chắc lúc nào đó rồi nó tự hết thôi...." (43 tuổi, SD2). Khí hư hay còn được gọi là huyết trắng đã được các phụ nữ kể đến như là một trong những dấu hiệu thường gặp nhất của bệnh viêm VĐSD. Các phụ nữ thường nhận biết khí hư thông qua màu sắc và mùi của nó. Các đặc tính này cũng có ảnh hưởng đến quyết định của nhiều phụ nữ về việc đi khám bệnh. "Nếu như tôi có khí hư mùi hôi hám, khó chịu nghĩa là tôi đang bị viêm và tôi sẽ phải đi khám bệnh ở đâu đó" (28 tuổi - SD1). Nhiều phụ nữ cũng thường không để ý đến các dấu hiệu sớm của bệnh VĐSD như ngứa bộ phận sinh dục, đau khi giao hợp hay khí hư trong, loãng ở giai đoạn đầu. Chỉ đến khi bệnh đã nặng mà phụ nữ ở đây cho là "cấp tính" hay "nghiêm trọng" là khi các dấu hiệu đe dọa đến sự sống, hoặc là ảnh hưởng đến khả năng lao động của họ thì họ mới cho là có bệnh và tìm cách chữa. Một phụ nữ 32 tuổi ở xã Thái Học nói: "Trước đây, tôi cũng thấy ra nhiều huyết trắng, lúc đó nó cũng gợn gợn đục đục, mùi hôi nhưng tôi lại cứ cho đó là dịch bình thường nên chẳng làm gì, cũng có những lúc ngứa và khó chịu lắm... nhưng vẫn đi làm bình thường, chỉ đến khi nó chuyển thành màu vàng, rồi xanh, người thì gày mòn, mệt mỏi, chẳng làm được việc gì... tôi mới đi khám" (34 tuổi-TH3). 3.1.2. Các yếu tố liên quan đến bệnh VĐSD Khi được yêu cầu liệt kê các nguyên nhân gây bệnh VĐSD, phần lớn phụ nữ ở Chí Linh cho rằng bị mắc bệnh là do vệ sinh tắm rửa (67%), vệ sinh kinh nguyệt (52%) và các yếu tố khác như quan hệ tình dục, hoặc lao động dưới nước, do nguồn nước, hoặc do đặt vòng. Trong các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, các phụ nữ cũng đã đưa ra được khá nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh VĐSD và theo họ có ba nguyên nhân chính. Nguyên nhân đầu tiên là do vệ sinh cá nhân không được sạch sẽ. Việc không thường xuyên rửa ráy "cái chỗ ấy", nhất là "sau khi lao động" trong môi trường không đảm bảo vệ sinh, trong chu kỳ kinh hay trước hoặc sau khi "quan hệ vợ chồng" đã được thường xuyên nhắc đến như là nguyên nhân của bệnh VĐSD. Ví dụ như một phụ nữ tại xã Thái Học đã nói: "Cứ không chịu rửa ráy trước hoặc sau khi quan hệ, hoặc chờ đợi cho đến sáng rồi mới rửa sẽ gây ra ngứa ngáy và bệnh tật. Không chịu rửa nó (bộ phận sinh dục) hàng ngày cũng có thể gây bệnh đấy...." (42 tuổi - THG3) Ngâm mình, hoặc làm việc trong nước ngoài ruộng đồng là một nguyên nhân của bệnh VĐSD cũng thường được các phụ nữ ở vùng nông thôn đề cập đến. Có tới 13/22 phụ nữ nhắc tới việc sử dụng vòng tránh thai là một nguyên nhân không trực tiếp gây ra bệnh nhưng có thể làm tăng nguy cơ bị viêm nhiễm. "Trước đây, khi chưa đặt vòng, em khỏe lắm... nhưng không hiểu sao từ khi có vòng, người em yếu đi nhiều, ra nhiều huyết trắng lắm, mà lại còn liên tục đau bụng nữa" (25 tuổi-TH1) Một số quan niệm trên của các phụ nữ cũng đã được chứng minh bằng các thông tin thu được từ cuộc điều tra 2000. Thuật toán "hồi quy logistics" đã được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố về kiến thức và thực hành của phụ nữ với bệnh VĐSD. Hai yếu tố điều kiện lao động ngâm mình dưới nước và việc sử dụng băng vệ sinh đã được tìm ra có liên quan với bệnh VĐSD có ý nghĩa thống kê. Kết quả cho thấy, những phụ nữ làm việc liên tục trong nước bị mắc bệnh VĐSD cao gấp 8 lần so với những phụ nữ không bao giờ làm việc ngâm mình trong nước, và những phụ nữ không sử dụng băng vệ sinh trong chu kì kinh nguyệt bị VĐSD cao gấp 1,7 lần so với những người sử dụng. 3.2. Phụ nữ Chí Linh thường làm gì khi nhận thấy bị mắc bệnh VĐSD Trong số liệu điều tra năm 2000, chỉ có 19% (72/378) phụ nữ cho rằng họ có dấu hiệu của các bệnh VĐSD. Trong số đó, chỉ có 26 phụ nữ (36%) đi khám bệnh tại các cơ sở y tế nhà nước như trạm y tế hay trung tâm y tế (TTYT) (33,2%) hoặc tại các thầy thuốc tư nhân (2,8%). Với những phụ nữ còn lại, có đến gần 21% (15/72) bỏ qua các dấu hiệu bệnh của mình hoặc là không điều trị bất kể một loại thuốc nào và có đến 43% (31/72) tự mua thuốc điều trị mà không có chỉ dẫn của bác sĩ hoặc nhân viên y tế. Khi được hỏi kĩ hơn trong các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, trong số 22 phụ nữ có đến 10 phụ nữ đã từng được khám chẩn đoán bị mắc bệnh VĐSD. Trong số đó, có tới 7 phụ nữ được phát hiện tại trạm y tế xã trong các đợt chiến dịch Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), 2 người được khám và chẩn đoán tại Trung tâm y tế huyện, và một người còn lại được chẩn đoán do thầy thuốc tư nhân. Hầu hết các phụ nữ được phỏng vấn đều đề cập nhiều đến gói bột Gynopic, thường được gọi là gói "hoa hồng", là một cách thông thường nhất mà phụ nữ Chí Linh thường dùng để điều trị bệnh. Đây là một loại thuốc sát khuẩn dùng rửa bộ phận sinh dục ngoài, tuy nhiên nhiều phụ nữ ở Chí Linh lại dùng để thụt rửa sâu vào bên trong, "Cứ mỗi lần em thấy ngứa, không chịu được, hay những lúc mà ra nhiều huyết trắng, em chỉ mua vài gói hoa hồng về pha vào nước, rồi rửa... vì ngứa lắm, nên em cứ phải thọc sâu vào bên trong để rửa... cứ làm như thế là thấy đỡ ngay, nhưng hay bị lại lắm... càng ngày lại càng nặng hơn..." (30 tuổi, TH10) Ngoài ra, nhiều phụ nữ còn dùng nước lá trầu không hay nước trà đặc để rửa bộ phận sinh dục khi bị ngứa, hoặc nhiều người cũng dùng sau khi họ đi làm ruộng về như một phương pháp phòng bệnh. Khi có triệu chứng nặng hơn, họ có thể tự đi mua "một vỉ hoặc vài viên con nhộng để uống cho đỡ". Việc tự điều trị bệnh mà không có sự chỉ dẫn và giám sát của thầy thuốc sẽ dễ dàng dẫn đến hậu quả chỉ tạm thời giảm bớt triệu chứng mà không điều trị được nguyên nhân gây ra bệnh. Ngoài ra còn gây ra tình trạng nguy hiểm là bệnh nhân kháng thuốc. Việc không điều trị bệnh trong giai đoạn sớm dễ dẫn tới tình trạng bệnh nặng hơn, tạo ra nhiều biến chứng, hoặc trở thành mạn tính, sẽ làm cho bệnh trở nên khó chữa hơn, điều trị sẽ tốn kém hơn. Bên cạnh đó, hầu hết các phụ nữ trong nghiên cứu này đều không tuân thủ chặt chẽ việc điều trị, họ thường quên hoặc dùng thuốc không đúng cách, không đúng thời gian, ví dụ như việc sử dụng kháng sinh như đã nêu trên. Điều này chứng tỏ, các phụ nữ đã không đánh giá đúng về bệnh của mình và luôn cho rằng "VĐSD là bệnh đơn giản". Thêm vào đó, sự hướng dẫn không đầy đủ của các nhân viên y tế cũng làm cho việc tuân thủ điều trị càng tồi tệ hơn. Trên địa bàn thị trấn Chí Linh, tuy cũng có nhiều phòng khám bệnh tư nhân, nhưng phụ nữ ở Chí Linh không sử dụng các dịch vụ này vì họ "không đủ tiền chi trả cho khám bệnh và mua thuốc ở đó" (27 tuổi, SD8). Không phụ nữ nào tìm đến thầy thuốc đông y, hoặc thầy lang để chữa trị VĐSD, họ cho rằng "đông y không có hiệu quả trong việc chữa trị bệnh viêm này" (42 tuổi-THG2). 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khám và điều trị VĐSD Cũng như các địa phương khác của Việt Nam, trạm y tế xã tại Chí Linh là nơi cung cấp các dịch vụ KCB cơ bản cho người dân và cũng là nơi thực hiện các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, viêm phổi cấp, KHHGĐ, tiêu chảy,v.v... Các trạm y tế xã thường mở cửa từ 7h sáng đến 4h30 chiều hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6, và cử cán bộ y tế trực trong thời gian còn lại.Tuy nhiên việc khám và chữa bệnh phụ khoa thì chỉ tiến hành một ngày trong tuần khi có các nhân viên từ TTYT huyện xuống hỗ trợ cán bộ tại trạm thực hiện các dịch vụ KHHGĐ mà chủ yếu là đặt vòng nên người dân còn thường gọi là "ngày đặt vòng". Phụ nữ đến khám tại trạm y tế hàng ngày, không phải trả tiền khám nhưng nếu họ dùng thuốc thì phải trả tiền. Một năm 2 lần, các cán bộ TTYT huyện cùng với nhân viên trạm y tế tổ chức các đợt chiến dịch KHHGĐ. Trong chiến dịch đó, tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) đều được cung cấp các dịch vụ KHHGĐ, ví dụ như đặt hoặc tháo vòng tránh thai, hút điều hoà kinh nguyệt, ngoài ra còn khám và điều trị VĐSD. Việc khám VĐSD chỉ dựa trên việc thăm khám lâm sàng và phần nhiều quyết định do kinh nghiệm của các nhân viên y tế. Phụ nữ được chẩn đoán là VĐSD sẽ được cung cấp một ít thuốc để điều trị và họ không phải trả tiền trong các "chiến dịch" này. Khi được hỏi về các "chiến dịch" này, 20/22 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu này đều đã đến để được khám và điều trị dù là họ có hoặc không có bệnh. Để sử dụng hình thức KCB này, các phụ nữ thường phải chờ đợi lâu vì "chiến dịch" chỉ được thực hiện 6 tháng 1 lần. Tuy nhiên, đây vẫn là một hình thức khám và điều trị VĐSD phổ biến của phụ nữ tại Chí Linh. Nhiều câu trả lời với ý tương tự "vì là bệnh thông thường, không nguy hiểm, nên đợi đến khám và lấy thuốc trong các đợt chiến dịch cũng được..." (34 tuổi-TH3) đã được các phụ nữ trả lời trong khá nhiều cuộc phỏng vấn. Nguyên nhân chủ yếu khiến các phụ nữ sẵn sàng chờ đợi để được KCB trong các đợt chiến dịch là việc tuyên truyền vận động của các đợt chiến dịch thường được tiến hành rất rầm rộ, thông qua nhiều hình thức như qua loa phát thanh, panô, áp-phích, khẩu hiệu, qua mạng lưới cộng tác viên dân số, hội phụ nữ, y tế thôn,v.v... Được khám và phát thuốc miễn phí cũng là một lí do hấp dẫn cuốn hút các phụ nữ đến với các đợt chiến dịch. Có phụ nữ tâm sự:"Cứ lần nào có chiến dịch là tôi cũng đi khám, chẳng tội gì.... đến lần nào tôi cũng xin được một ít thuốc để dùng khi mấy đứa con bị ho hay đi ngoài"(34 tuổi, TH9) hoặc "Đến vào các đợt chiến dịch, vừa được khám, lấy thuốc không mất tiền mà lại còn cảm thấy thoải mái vì lúc đó ai cũng đến đó khám phụ khoa, chẳng ngại gì sất.... chứ đến trạm y tế vào ngày thường để khám "cái đó" thì ngại lắm, cứ như bị làm sao ấy" (24 tuổi, TH2). Như vậy đến KCB vào các "đợt chiến dịch", phụ nữ sẽ cảm thấy thoải mái hơn vì "không khí của ngày chiến dịch" thường làm cho các phụ nữ thấy thân thiện hơn và người phụ nữ thường có cảm giác là "đi khám để kiểm tra sức khỏe chứ không phải là đi chữa bệnh". Tuy nhiên, mỗi đợt chiến dịch như vậy chỉ kéo dài trong một ngày, được thực hiện với một hoặc hai cán bộ y tế đến từ TTYT cùng sự tham gia của nhiều nhất 5 cán bộ tại trạm, mà có đến vài trăm phụ nữ đến khám, như vậy, chất lượng khám, phát hiện và điều trị bệnh chắc chắn là không bảo đảm. Thêm vào đó, sự thường quy của các đợt chiến dịch cứ 6 tháng 1 lần đã làm cho phụ nữ ở Chí Linh trở nên thụ động, chờ đợi người khác đến khám cho, mà không coi đó là nhu cầu của bản thân mình. Các thông tin về bệnh VĐSD chỉ được phát đi trong ngày chiến dịch, còn ngày thường thì hầu như không có. Thực ra, các thông tin được truyền đi trong ngày chiến dịch thường tập trung vào các dịch vụ KHHGĐ như hút điều hoà kinh nguyệt, đặt vòng, tháo vòng, bao cao su, thuốc tránh thai... chứ không nói nhiều đến dịch vụ khám và điều trị VĐSD. Phần đông các chị em đều cho rằng họ thiếu các thông tin về việc khám và điều trị bệnh VĐSD tại cộng đồng. Nội dung và hình thức của các đợt truyền thông thường là nghèo nàn và không được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động tư vấn tại trạm thì hầu như không có. Do vậy, các phụ nữ thường bị hạn chế hoặc hiểu chưa đúng về các nguy cơ nhiễm VĐSD, các dấu hiệu bệnh, hậu quả, phương pháp phòng và điều trị bệnh VĐSD. Trong những ngày thường, phụ nữ ở Chí Linh, đặc biệt là ở vùng nông thôn, không hay đến trạm y tế để khám bệnh VĐSD. Lí do chủ yếu để giải thích điều này thường là do họ không cảm thấy tin tưởng vào các dịch vụ y tế tại trạm. Thuốc điều trị các bệnh VĐSD không thường xuyên có sẵn tại các trạm y tế. Các phụ nữ thường phàn nàn rằng :"có lần tôi đến trạm để khám, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy cán bộ y tế đâu, có những lúc gặp được thì cũng chỉ mua được vài viên thuốc, chứ có khám xét gì đâu" (45 tuổi-TH5) hoặc "tôi có mấy lần mua thuốc thì lần nào cũng chỉ có một loại, mà mang về dùng thì chẳng thấy đỡ, chỉ muốn thay loại khác, mà lại chẳng có..."(30 tuổi-TH10). Phương pháp và thời gian điều trị cũng là một vấn đề cần xem xét. Hầu hết, các phụ nữ bị VĐSD, đều được các cán bộ y tế tại trạm hoặc TTYT cho sử dụng thuốc đặt kéo dài. Với những người bị mắc bệnh lâu ngày hoặc bị nhiều lần, có những lúc phải đặt thuốc kéo dài cả nửa tháng. Nhiều phụ nữ gặp nhiều khó khăn khi dùng phương pháp điều trị này như khi họ đi làm, hay những lúc đến chu kì kinh nguyệt, hoặc với phụ nữ trẻ thì họ thường rất e ngại khi dùng phương pháp điều trị này. Một số người khác cũng có những biểu hiện nghi ngờ về vai trò và trình độ của cán bộ y tế xã trong việc khám và điều trị VĐSD:"thường thì toàn bác sĩ trên huyện về thì tôi mới đến khám, chứ cán bộ ở trạm không biết làm đâu (22 tuổi, SD4). Trong cuộc điều tra, khi hỏi những phụ nữ mắc bệnh VĐSD mà không điều trị về nguyên nhân chính khiến họ không đi KCB, có đến hơn một nửa (52,1%) phụ nữ cho rằng họ có thể tự chữa được hoặc chưa cần khám. Vấn đề khó khăn tài chính chỉ là một nguyên nhân chiếm chưa tới 5% các nguyên nhân không đi khám. Một số ý kiến khác đề cập đến việc không có thời gian (15,2%) hoặc do nguyên nhân khác (28,3%). Tuy nhiên, các kĩ thuật nghiên cứu nhân học lại cho thấy rất nhiều phụ nữ, đàn ông và cả các cán bộ y tế đều nhắc đến việc phụ nữ không đi KCB là do họ không có thời gian và tiền để điều trị bệnh. Bệnh VĐSD dường như bị che lấp bởi các ưu tiên khác trong cuộc sống hàng ngày của những người phụ nữ. Như một cán bộ y tế xã nói:"phụ nữ ở đây họ còn mải đi kiếm tiền vì họ còn nuôi con, gánh vác các công việc gia đình. Nghỉ một buổi chợ để đi khám, thì họ lấy đâu ra tiền mua thức ăn cho gia đình ngày hôm đó. Mà khám ra được bệnh, thì cũng không có tiền mà mua thuốc điều trị..."(42 tuổi-TH7). Bản thân nhiều người phụ nữ, tự họ cho rằng "với số tiền ít ỏi của cả gia đình, nên tôi phải dành dụm để chi tiêu trong gia đình, nuôi con... chẳng dám nghĩ đến đi khám bệnh đâu, tốn kém lắm" (34 tuổi-TH9). Đức tính hi sinh, chịu khó của người phụ nữ Việt Nam, thường không chú ý đến các nhu cầu của bản thân, kể cả nhu cầu khám chữa bệnh khi họ mắc bệnh. Theo tập tục sống ở nông thôn, vai trò của người phụ nữ trong gia đình thường là thụ động và ít khi họ có cơ hội để chia sẻ với người chồng về bệnh tật và về việc vệ sinh cá nhân trong quan hệ tình dục. Trong số 72 phụ nữ trong cuộc điều tra năm 2000 có nhận thấy các dấu hiệu bệnh VĐSD, thì có tới hơn 1/4 phụ nữ (27%) không nói cho chồng biết về điều này. Còn trong cuộc phỏng vấn sâu có 5/22 phụ nữ trả lời rằng họ "chẳng bao giờ nói chuyện với chồng về những chuyện đó" hoặc "đôi khi còn phải giấu vì sợ ông ấy biết lại nghĩ ngợi nọ kia", có đến hơn một nửa số phụ nữ (13/22) "ít khi nói với chồng về chuyện đó lắm". Trong khi đó, một số đàn ông thì cho rằng :"đó là việc của đàn bà. Tôi làm sao biết được". Chính những suy nghĩ và quan niệm của những người đàn ông như vậy sẽ làm phụ nữ không dám chia sẻ với chồng vì "có nói với chồng thì cũng chẳng giải quyết vấn đề gì" và như vậy họ cũng không dám dành thời gian và tiền để đi khám và điều trị bệnh cho mình.
4. Kết luận và khuyến nghị Bệnh VĐSD là một vấn đề thường gặp ở phụ nữ tại Chí Linh với tỷ lệ hiện mắc là 42,6%. Nghiên cứu đã tìm ra nhiều yếu tố liên quan tới VĐSD ở phụ nữ tại Chí Linh, trong đó có 2 yếu tố (điều kiện lao động ngâm mình dưới nước và sử dụng băng vệ sinh trong chu kỳ kinh nguyệt) đã được chứng minh bằng các thuật toán thống kê là có mối liên quan chặt chẽ với bệnh. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy các phụ nữ ở đây thường không sớm điều trị bệnh, và nếu có thì họ thường tự mua thuốc điều trị, không theo chỉ dẫn của bác sĩ và cũng không tuân theo một quy trình điều trị nào. Một số yếu tố liên quan đến các hành vi khám và điều trị VĐSD đã được tìm thấy và nổi bật lên là do phụ nữ không nhận biết các dấu hiệu bệnh hoặc họ thường "coi nhẹ bệnh" và có các quan niệm không đúng về bệnh như cho rằng các dấu hiệu của bệnh VĐSD như khí hư âm đạo hoặc đau hạ vị là những dấu hiệu bình thường tự nhiên, hay VĐSD là "bệnh mãn tính không chữa trị khỏi được",v.v... Bên cạnh đó, các đợt "chiến dịch KHHGĐ" được tiến hành sáu tháng một lần cũng làm cho phụ nữ trở nên thụ động với bệnh mà mình đang mắc, vì họ thường cố chờ đến các đợt chiến dịch để được nhận thuốc và khám phụ khoa không mất tiền. Các yếu tố khác, như chất lượng dịch vụ y tế chưa tốt, can thiệp giáo dục sức khỏe không phù hợp, hạn chế về thời gian, tài chính và bất bình đẳng về giới cũng đã được tìm thấy là những yếu tố cản trở gây ra hiện tượng ít điều trị và điều trị muộn VĐSD của phụ nữ tại Chí Linh. Dựa trên các kết quả tìm ra từ nghiên cứu này, chúng tôi có các khuyến nghị cụ thể như sau: 1. Cải thiện các chương trình giáo dục sức khỏe nhằm tăng cường sự hiểu biết về bệnh VĐSD trong cộng đồng, nhằm thay đổi những quan niệm và thói quen không đúng liên quan đến bệnh. Đồng thời, việc giáo dục sức khỏe phải giúp tạo ra nhu cầu được khám chữa bệnh đúng, đầy đủ và kịp thời từ phía người dân, đặc biệt là đối với các phụ nữ khi mắc bệnh. Để thực hiện việc này, các chương trình giáo dục sức khoẻ cần thay đổi về hình thức và nội dung để nâng cao vai trò của nam giới, cụ thể là những người chồng trong việc khuyến khích và động viên vợ đi KCB. 2. Cần xem xét lại việc thực hiện các đợt chiến dịch KHHGĐ tránh tạo cho người dân có thói quen chờ đợi vào các đợt chiến dịch dẫn đến việc điều trị bệnh muộn. 3. Thiết lập và tiến hành các hoạt động tư vấn phù hợp cho các đối tượng quan tâm đến bệnh VĐSD, (nên phối hợp với tư vấn về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS). 4. Đào tạo lại một cách hiệu quả cho các cán bộ y tế bao gồm các bác sĩ sản phụ khoa, y sĩ, y tá sản nhi về việc phát hiện, chẩn đoán, điều trị, quản lý và phòng ngừa bệnh. Chú trọng đến đào tạo kĩ năng, có gắn với thực hành. 5. Tăng cường mối quan hệ, trao đổi và hỗ trợ về chuyên môn giữa các cán bộ y tế của đội BVBMTE/KHHGĐ của tuyến huyện với cán bộ tuyến xã, đặc biệt là phát huy năng lực của các cán bộ y tế xã.
Tài liệu tham khảo
1. Aggarwal AK. Kumar R. Gupta V. Sharma M. (1999) Community - based study of reproductive tract infections among ever married women of reproductive age in a rural area of Haryana, India. Journal of Communicable Diseases. 31(4):223-8 2. Dixon-Mueller R, Wasserheit J: The culture of silence: Reproductive Tract Infections among women in the third world. NewYork, International Women's Health Coalition, 1991. 3. Do TP, et al. 2001. Reproductive tract infections in Vietnam: critical review of literature (1995-2000). Community Health Research Unit in Hanoi Medical School, Vietnam. 4. Tran HM., Vu SH., Hoang TA. (1999). Reproductive tract infections: current situation of the disease, gaps in knowl- edge and practice of women of childbearing age in a rural area of Vietnam. Medical Publish House 5. Le Vu Anh et al. Findings from a community base-line health survey in Chilinh in 2000. Hanoi School of Public Health. 6. Lynellyn DL. Overview of reproductive tract infections and the private sector in Vietnam. International workshop on reproductive health in Indonesia in December 1997. |
|
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:47 |
- Thông tin Y tế công cộng quốc tế (Tổng hợp từ TTXVN, Vnexpress, Vietnamnet)
- Tin hoạt động Hội Y tế công cộng Việt Nam
- Thông tin thường kỳ về phòng chống tác hại thuốc lá (PCTHTL)
- Nghiên cứu sinh thái về một số đặc điểm của xã đến bệnh mắt hột hoạt tính ở trẻ em
- Xây dựng mô hình cộng đồng sử dụng an toàn thuốc bảo vệ thực vật tại một huyện đồng bằng và một huyện miền núi phía Bắc
- Phân tích tình hình phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong lĩnh vực y tế ở Hà Nội, Việt Nam
- Tăng cường tiếp cận thuốc điều trị AIDS ở Việt Nam: Các khía cạnh về xã hội và y tế
- Phá thai bằng thuốc: Khả năng chấp nhận của phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh
- Yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3 tại thành phố Hồ Chí Minh
- Sự ra đời của Cục Phòng chống HIV/AIDS Việt Nam trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam










