Polls
Announcement
| Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp |
| Written by Ths. Lê Thị Thanh Hương(*), Ths. Trần Văn Hai(**), Ths. Nguyễn Công Cừu(***) và cs. | |
| Monday, 26 October 2009 23:32 | |
|
There are no translations available. Sốt xuất huyết (SXH) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm. Bệnh đang có xu hướng gia tăng tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long trong một vài năm trở lại đây, với những diễn biến hết sức phức tạp. Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, là nghiên cứu ban đầu trong chương trình can thiệp xây dựng mô hình phòng chống sốt xuất huyết tại địa bàn xã. Đây là một trong những địa phương có số ca mắc SXH cao nhất ở Việt Nam trong năm 2005 và 2006. Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 6 năm 2006 tại 600 hộ gia đình tại xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, điều tra về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống SXH, các nguồn thông tin về phòng chống SXH mà người dân tiếp cận, đồng thời tiến hành điều tra côn trùng học và các dụng cụ chứa nước tại các hộ gia đình được điều tra. Kết quả cho thấy tỉ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống SXH là 50%, tỉ lệ người dân có thái độ đúng về phòng chống SXH là 57% và tỉ lệ người dân có thực hành đúng về phòng chống SXH chỉ chiếm 26%. Các chỉ số về mặt côn trùng học đều vượt ngưỡng gây dịch, cụ thể chỉ số nhà có bọ gậy (HI) là 38%, chỉ số Breteau (BI) là 56, chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là 2, 24 và chỉ số mật độ muỗi (CSMĐM) là 0,56. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng và thực hành đúng về phòng chống SXH. Nguồn thông tin về phòng chống SXH mà người dân địa phương thường tiếp cận chủ yếu là ti vi (58,8%), hệ thống loa đài phát thanh (48,7%) và nhân viên y tế (16,8%). Đây cũng là 3 kênh cung cấp thông tin chính và được người dân ưa thích nhất. .
Từ khoá: Sốt Dengue (SD), sốt xuất huyết Dengue (SXHD), vi rút Dengue, kiến thức, thái độ, thực hành.
Knowledge, attitudes, practice toward Dengue fever prevention of people living in Binh Thanh Commune, Thanh Binh District, Dong Thap province
Dengue fever, especially dengue hemorrhage fever (DHF) is a very dangerous acute communicable disease, and it has been on an increase in the South of Vietnam during the past few years, mainly in the Mekong Delta region, with a very complex development. This study was conducted in Binh Thanh commune, Thanh Binh district, Dong Thap province, and was the first stage of the intervention pro- gram for development of a community-based dengue fever prevention model. This is one of provinces with the highest number of DHF morbidity cases in the country between 2005 and 2006. The KAP study was conducted in June 2006 among 600 households in Binh Thanh commune on prevention and control of dengue fever and DHF, simultaneously accompanied with an entomological survey and inspection of water containers in those households. The results show that the proportion of commu- nity with good knowledge on dengue prevention and control was 50%, while the proportions of good attitudes and good practices were 57% and 26%, respectively. All entomological indicators were above the epidemic threshold, i.e. household index (HI) was 38%, Breteau index (BI) was 56, larva density was 2.24 and adult density was 0.56. The study also shows the relationship with statistical significance between the good knowledge and good practice on prevention and control of dengue and DHF. The information sources mainly accessed by community were TV (58.8%), radio and loud- speakers (48.7%), and health staff (16.8%). These are also 3 main and most favorite information channels of the community.
Key words: Dengue fever, dengue hemoharrigc fever, dengue virus, knowledge, attitudes, practice
1. Đặt vấn đề Bệnh sốt dengue (SD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút gây ra và được muỗi Aedes truyền qua vết đốt. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 5 đến 7 ngày. Đặc điểm của bệnh là khởi phát đột ngột, sốt từ 3 đến 5 ngày, đau đầu dữ dội, đau khớp xương và đau cơ, đau sau hốc mắt, sưng các hạch bạch huyết và xuất huyết dưới da. Ba triệu chứng sốt, xuất huyết dưới da và đau đầu (còn gọi là bộ ba dengue) thường là những đặc trưng điển hình của bệnh sốt dengue[3]. Tác nhân gây bệnh là vi rút dengue, có các típ huyết thanh 1, 2, 3 và 4 thuộc họ vi rút flavi (Flaviviruses), đây cũng là vi rút gây bệnh sốt xuất huyết dengue (SXHD). Các típ vi rút dengue hiện nay đang là nguyên nhân gây bệnh lưu hành ở hầu hết các nước nhiệt đới[3]. Ở Việt Nam đã phân lập được cả 4 típ vi rút gây bệnh. Muỗi truyền bệnh SD/SXHD thường có hai loại: Aedes aegypti và Aedes albopictus, nhưng chủ yếu là Aedes aegypti. Vi rút được truyền từ người bệnh sang người lành qua vết đốt của muỗi mang vi rút. Đây là loại muỗi đốt ngày, hoạt động của chúng tăng lên vào thời gian 2 giờ sau khi mặt trời mọc và vài giờ trước khi mặt trời lặn[3]. Hiện nay SD/SXHD vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị SD/SXHD chỉ đơn thuần là điều trị triệu chứng và chăm sóc y tế tốt. Do đó chỉ có thể làm giảm lây truyền bằng cách phòng chống vectơ truyền bệnh mà chủ yếu là diệt muỗi, diệt bọ gậy của muỗi Aedes aegypti. Việt Nam là nước nằm trong khu vực có dịch SD/SXHD lưu hành nặng. Số ca mắc sốt xuất huyết (SXH) tăng đột biết trong vài năm trở lại đây. Riêng 6 tháng đầu năm 2007, Việt Nam đã có 58.777 ca mắc SXH, trong đó có 54 ca tử vong, tăng 49% so với cùng kỳ năm 2006[5]. Số ca mắc SXH tăng mạnh ở các tỉnh phía Nam Việt Nam, trong đó Đồng Tháp là một trong những tỉnh có số ca mắc SXH cao nhất trong cả nước trong hai năm 2005 và 2006. Xã Bình Thành là xã vùng ven của huyện Thanh Bình, nằm dọc theo trục liên tỉnh lộ 80, là một trong ba xã có tỷ lệ mắc SD/SXHD cao nhất huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp trong nhiều năm liền[6]. Cho đến nay, tại địa bàn huyện Thanh Bình chưa có một công trình nghiên cứu nào về bệnh SXH và các yếu tố liên quan. Do vậy, nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống SXH này sẽ là một tiền đề để tiến hành các hoạt động can thiệp nhằm góp phần làm giảm tỉ lệ mắc, chết do SXH tại địa phương. Mục tiêu của nghiên cứu trong giai đoạn điều tra ban đầu là: 1. Tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SD/SXH của người dân tại xã Bình Thành 2. Xác định tỷ lệ hộ gia đình có bọ gậy, chỉ số Breteau, chỉ số mật độ bọ gậy, chỉ số mật độ muỗi ở các hộ gia đình. 3. Xác định ổ bọ gậy nguổn truyền bệnh SD/SXHD tại địa bàn. 4. Xác định tỷ lệ các nguồn thông tin giáo dục sức khỏe (GDSK) về phòng chống SD/SXHD mà người dân tiếp cận được.
2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu điều tra cắt ngang được thực hiện trong tháng 6 năm 2006 tại địa bàn xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Đối tượng nghiên cứu: các hộ gia đình có mặt tại xã Bình Thành huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp vào tháng 06/2006 bao gồm: - Người chủ hộ gia đình, hoặc người có thể quyết định những sinh hoạt trong gia đình, có khả năng hiểu và trả lời phỏng vấn. - Các dụng cụ chứa nước trong và ngoài nhà Sử dụng công thức chọn mẫu của nghiên cứu mô tả cắt ngang, với ước lượng tỉ lệ hộ gia đình có kiến thức, thái độ, thực hành tốt về phòng chống sốt xuất huyết là 50%, cỡ mẫu tính được là 384 hộ gia đình. Do áp dụng kỹ thuật chọn mẫu cụm xác xuất theo tỉ lệ, nên cỡ mẫu được nhân với hệ số thiết kế là 1,5 (do các cụm là các tổ dân phố và được chọn rộng khắp trên địa bàn toàn xã, không bỏ sót một tổ nào cả và các tổ được chọn phụ thuộc vào dân số, nơi nào đông dân sẽ có cơ hội được chọn nhiều hơn, phù hợp với SXH. Vì thế hệ số thiết kế không cần phải quá lớn, 1, 5 là đủ để hạn chế sai số do chọn mẫu) cộng với 10% bỏ cuộc nên số hộ gia đình được điều tra là 600 hộ gia đình. Số hộ được điều tra côn trùng học ước tính là 10%, tổng cộng là 60 hộ.
Phương pháp thu thập số liệu: - Phỏng vấn hộ gia đình bằng bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn. - Quan sát tình trạng vệ sinh hộ gia đình bằng bảng kiểm được thiết kế sẵn. - Quan sát tìm lăng quăng, bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước và các vật dụng phế thải tại các hộ gia đình. - Bắt lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước, vật dụng phế thải và muỗi cái Aedes trú ẩn trong quần áo, chăn màn của hộ gia đình. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: - Số liệu sau khi thu thập sẽ được kiểm tra lại từng phiếu trước khi nhập liệu để bảo đảm có đầy đủ thông tin mong muốn. Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 7.0, tạo nhãn và chuẩn bị file check cẩn thận để dễ dàng kiểm soát sai lệch khi nhập liệu và làm sạch số liệu. - Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 8.0, những số thống kê mô tả được tính gồm có tần số và phần trăm của các biến số. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê được thực hiện bởi phép kiểm định khi bình phương (÷²) ở mức ý nghĩa 5%, kiểm soát các yếu tố nhiễu bằng phương pháp phân tầng.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Trong tổng số 600 hộ gia đình được phỏng vấn, tỉ lệ nam giới chiếm 62,5%; nữ giới là 37,5%. Tuổi đời trung bình của người tham gia trả lời phỏng vấn là 42, 2 tuổi, nhỏ nhất là 17 tuổi và lớn tuổi nhất là 60 tuổi, số người dưới 35 tuổi chiếm 31,7%. Đa số người tham gia trả lời phỏng vấn làm nghề nông (76,8%). Trình độ học vấn của người tham gia trả lời phỏng vấn còn hạn chế, với 57% có trình độ từ cấp I trở xuống, trong số đó có 6,7% mù chữ, không biết đọc - viết. Tỉ lệ hộ nghèo chiếm 9,3% Trong số các hộ gia đình được phỏng vấn, có tới 17,7% số hộ có người trong gia đình từng bị mắc bệnh SXH.
3.2. Kiến thức về phòng chống bệnh SXH Chỉ có 59,7% đối tượng tham gia trong nghiên cứu biết được các dấu hiệu thông thường của bệnh SD/SXHD, 45,5% đối tượng biết được các dấu hiệu khi bệnh SD/SXHD chuyển nặng, cần phải đưa người bệnh đến các cơ sở y tế, chỉ có 81,3% đối tượng biết đường lây truyền của bệnh. Theo thang điểm chấm, chỉ có 50% số người được hỏi có kiến thức đúng về phòng chống bệnh SXH. Kết quả bảng 1 cho thấy các yếu tố như tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, kinh tế hộ gia đình, gia đình từng có người mắc SD/ SXHD có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức đúng về phòng chống SD/ SXHD.
3.3. Thái độ về phòng chống bệnh SXH Trong số 600 người tham gia trả lời phỏng vấn, có 61,0% người muốn áp dụng biện pháp kiểm soát muỗi, bọ gậy trong phòng chống SXH, 24,2% muốn dùng hoá chất diệt muỗi. Có 55,8% cho rằng trách nhiệm kiểm soát muỗi và bọ gậy thuộc về chính bản thân người dân, 37,2% cho là Nhà nước và nhân dân cùng làm. Cá biệt có 7% số người cho rằng trách nhiệm này thuộc về chính quyền, nhà nước. Khi tìm mối liên quan giữa các biến số trong phần thông tin chung về đối tượng phỏng vấn, kết quả cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn của người tham gia trả lời phỏng vấn với thái độ đúng về phòng chống bệnh SD/SXHD, tỉ lệ người dân có trình độ học vấn cao hơn cấp 1 có thái độ đúng là 65,1%, trong khi tỉ lệ này ở nhóm đối tượng có trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống là 50,6% (p = 0,001).
3.4. Thực hành về phòng chống bệnh SXH Trong số các đối tượng trả lời phỏng vấn, chỉ có 26,7% đối tượng ngủ màn kể cả ban đêm lẫn ban ngày. Hầu hết các hộ gia đình nơi đây đều có trữ nước để ăn uống và sinh hoạt nhưng chỉ có 74,9% gia đình đậy kín các dụng cụ chứa nước. Khi quan sát tình trạng vệ sinh ở các hộ gia đình tham gia nghiên cứu cho thấy có 66,9% hộ gia đình có vệ sinh trong nhà tốt (treo, móc quần áo, màn, rèm gọn gàng), 56,2% hộ gia đình vệ sinh xung quanh nhà tốt (không có vật phế thải, không có nước đọng), 77,9% hộ gia đình không có bọ gậy.
Kết quả cho thấy các biến số như trình độ học vấn, hộ gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành đúng về phòng chống SD/ SXHD. Tỉ lệ người có trình độ học vấn trên cấp 1 có tỉ lệ thực hành đúng là 30,7%, tỉ lệ này ở nhóm có trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống là 22,5% (p = 0,025). Tỉ lệ hộ gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi có thực hành đúng thấp hơn so với hộ gia đình không có trẻ dưới 5 tuổi (17,8% so với 31,8%; p<0,001).
3.5. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống bệnh SXH Nghiên cứu đã tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với thực hành phòng chống SD/SXHD, những người có kiến thức đúng về phòng chống SD/SXHD thì có thực hành đúng về phòng chống SD/SXHD cao hơn so với những người có kiến thức chưa tốt (OR=1,57), sự liên quan này là có ý nghĩa thống kê với (P <0,05) và khoảng tin cậy 95% của OR là (1,07-2,31).
3.6. Kết quả điều tra côn trùng học - Chỉ số nhà có bọ gậy: HI = 38% - Chỉ số Breteau: BI = 56 - Chỉ số mật độ bọ gậy: CSMĐBG (con/nhà) = 2,24 - Chỉ số nhà có muỗi: CSN = 40% - Chỉ số mật độ muỗi: CSMĐM (con/nhà) = 0,56 Các kết quả điều tra côn trùng học cho thấy các chỉ số côn trùng học như HI, BI, CSMĐM đều cao hơn ngưỡng gây dịch và nguy cơ xảy ra dịch bệnh là cao tại địa phương.
3.7. Ổ bọ gậy nguồn của Aedes aegypti
Bảng 2. Ổ bọ gậy nguồn truyền bệnh SD/SXHD (trong 600 hộ gia đình điều tra) Kết quả bảng 2 cho thấy có tới 58,5% vật dụng phế thải có bọ gậy Aedes, sau đó là bể chứa nước (33,9%), hòn non bộ (33,3%), lu/ phuy/ chum (29,2%), chậu/ bát nước dưới chân tủ thức ăn (21,7%), cuối cùng là lọ cắm hoa (10,9%).
3.8. Tiếp cận thông tin về phòng chống SXH Các kênh truyền thông, giáo dục sức khỏe về phòng chống SD/SXHD mà người dân nơi đây tiếp cận được chủ yếu là qua phương tiện truyền thông đại chúng: 58,8% qua truyền hình, 48,7% qua loa, đài truyền thanh địa phương và radio, chỉ có 16,8% đối tượng tiếp nhận thông tin phòng chống SD/SXHD từ nhân viên y tế. Tỷ lệ người dân tiếp cận được rất thấp như qua người thân, quen (5,3%), qua sách, báo, tạp chí (5,2%), qua các thầy thuốc tư nhân (1,8%), qua cán bộ đoàn thể (0,8%), qua chính quyền địa phương (0,5%). Các kênh thông tin mà người dân ưa thích tiếp cận nhất là: truyền hình (52,8%), loa đài, radio (30%) và nhân viên y tế (11,7%).
4. Bàn luận
4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Trong tổng số 600 người tham gia nghiên cứu, có 62,5% đối tượng là nam giới, 37,5% là nữ giới, tỷ lệ này phản ảnh đúng thực tế quan hệ trong gia đình của các tỉnh khu vực phía Nam, phần lớn chủ hộ gia đình là người cha, người chồng, người ông trong gia đình, người đàn ông có quyền quyết định các vấn đề sinh họat. Nghề nghiệp của đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là làm ruộng (76,8%), cao hơn nhiều lần so với các ngành nghề khác, tỷ lệ nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với quần thể hiện tại (theo số liệu của UBND xã, tỷ lệ người dân làm ruộng của xã Bình Thành năm 2005 là 75,9%). Trình độ học vấn của người dân còn khá thấp, 57% có trình độ từ cấp I trở xuống, tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu khác của Lý Lệ Lan, Nguyễn Văn Danh[1,4], nhưng lại rất phù hợp với thực tế địa phương (theo số liệu của địa phương năm 2005 xã Bình Thành có 8% dân số mù chữ, 50,1% có trình độ cấp I). Tỷ lệ hộ gia đình có trẻ em < 5 tuổi là khá cao (41,2%) và hộ gia đình từng có người mắc bệnh sốt xuất huyết chiếm tỷ lệ 17,7% (bảng 1), tỷ lệ này phù hợp với những đặc điểm của người dân xã Bình Thành trong thời điểm hiện tại.
4.2. Kiến thức về phòng chống bệnh SXH Về kiến thức chung trong phòng chống bệnh SXH, chỉ có 50% người dân có kiến thức đúng. Tỉ lệ này khá thấp so với các nghiên cứu tương tự ở các khu vực khác như Đồng Nai, Sóc Trăng[1,2]. So sánh giữa kiến thức chung về phòng chống bệnh SXH và các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, các đặc điểm như tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, kinh tế hộ gia đình, gia đình từng có người mắc SXH có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức đúng về phòng chống bệnh SXH. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế.
4.3. Thái độ về phòng chống bệnh SXH Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ về phòng chống bệnh SXH của người dân xã Bình Thành chưa cao, chỉ 57,0% người được hỏi có thái độ đúng về phòng bệnh SXH. Tỉ lệ này tương đương với các nghiên cứu ở Sóc Trăng, ở thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Hoàng Dũng, Lý Lệ Lan[2,4]. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và thái độ đúng trong phòng chống bệnh SD/ SXHD. Nhóm có trình độ từ cấp 1 trở lên có thái độ phòng chống SXH tốt hơn nhóm còn lại. Điều này cũng dễ giải thích, những người có trình độ học vấn cao hơn thì thái độ phòng bệnh cũng cao hơn.
4.4. Thực hành về phòng chống bệnh SXH Thực hành đúng trong phòng chống bệnh SXH của người dân xã Bình Thành rất thấp, chỉ chiếm 26,0%. Tỉ lệ này hoàn toàn phù hợp với những kết quả đã thu được về kiến thức đúng và thái độ đúng trong phòng chống căn bệnh này. Kiến thức, thái độ của người dân xã Bình Thành trong phòng chống bệnh SXH là chưa cao, do đó đã dẫn đến kết quả là thực hành của họ trong phòng chống bệnh là thấp. Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng và thực hành đúng trong phòng chống bệnh SXH. Những người dân có kiến thức tốt về phòng chống SD/SXHD sẽ thực hành đúng về phòng chống bệnh SD/SXHD cao hơn so với người có kiến thức chưa tốt. Vậy giáo dục để nâng cao nhận thức cho người dân tại địa phương sẽ góp phần quan trọng nâng cao thực hành phòng chống SD/SXHD trong thời gian tới
4.5. Kết quả điều tra côn trùng học Các chỉ số điều tra côn trùng học đều rất cao, vượt quá xa giới hạn bình thường đặc biệt HI (38%) và BI (56). Hai chỉ số quan trọng này đã vượt xa so với giới hạn an toàn cho thấy dấu hiệu địa bàn xã Bình Thành có nguy cơ cao xảy ra dịch SXH nếu như không có những can thiệp kịp thời[7]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, kiểm soát muỗi lâu dài cần dựa vào truyền thông giáo dục sức khoẻ và sự tham gia của cộng đồng, ủng hộ của pháp luật khi có thể cùng với biện pháp cung cấp nước sạch và hóa chất diệt bọ gậy là biện pháp bổ sung[8]. 4.6. Ổ bọ gậy nguồn Aedes Bằng phương pháp quan sát trực tiếp các vật chứa nước tại các hộ gia đình và dùng kính hiển vi để định danh bọ gậy, phân loại bọ gậy kết quả nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ có bọ gậy Aedes trong các vật phế thải chứa nước quanh nhà là cao nhất, tiếp đến là trong các bể chứa nước không được đậy kín, trong các hòn non bộ, trong các lu, phuy, chum, trong các chậu nước / bát dưới chân tủ thức ăn và trong các lọ cắm hoa. Như vậy cần huy động sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống SD/SXHD tại địa bàn xã Bình Thành, cụ thể là thuyết phục họ dẹp bỏ các vật phế thải, đậy kín hoặc thả cá, thả Mesocyclops vào các bể chứa nước sinh họat, thường xuyên, định kỳ ( 7ngày7/lần), súc rửa các vật chứa nước như hòn non bộ, chậu nước dưới chân tủ thức ăn, lọ cắm hoa.
4.7. Tiếp cận thông tin về phòng chống SXH Kênh truyền thông qua tivi là kênh quan trọng, có tỷ lệ người dân tiếp cận cao nhất, tiếp đến từ loa, đài truyền thanh địa phương và radio, và tiếp cận qua nhân viên y tế. Nguồn thông tin thông qua những kênh truyền thông khác rất thấp, không đáng kể. Kết quả nghiên cứu một lần nữa cho thấy sự kém hiệu quả của hệ thống truyền thông - GDSK tại địa phương và hiệu quả vận động của các cán bộ chính quyền, đoàn thể là chưa cao. Kết quả này có sự khác biệt và thấp hơn nhiều so với những nghiên cứu của những tác giả ở những địa phương khác. Nghiên cứu ở Định Quán, Đồng Nai của tác giả Nguyễn Văn Danh cho biết có 80,2% người dân tiếp cận thông tin qua tivi, 73,2% thông qua nhân viên y tế1. Nghiên cứu ở quận 5, TP.HCM của tác giả Lý Lệ Lan cho thấy có 94,7% người dân tiếp cận thông tin phòng chống SD/SXHD qua tivi, 49,9% qua sách báo, 31% qua người thân quen.
4.8. Khuyến nghị Kết quả nghiên cứu cho thấy tại xã Bình Thành, cần có một chương trình truyền thông giáo dục sức khoẻ cho nhân dân về cách phòng chống bệnh SXH, cụ thể là cung cấp thông tin về muỗi vằn, thời điểm muỗi đốt, thời gian định kỳ súc rửa các vật chứa nước trong gia đình, dấu hiệu nhận biết bệnh, cách phòng tránh muỗi, bọ gậy hiệu quả Đặc biệt, cần chú trọng tới đối tượng người nghèo, người làm ruộng và người có trình độ học vấn từ cấp 1 trở xuống.
Cần tăng cường vận động nhân dân giám sát, tiêu diệt bọ gậy, đặc biệt chú ý tới ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes tại địa bàn xã như dọn dẹp, phá huỷ các vật phế thải chứa nước không cần thiết, đậy kín các bể, dụng cụ chứa nước, thường xuyên súc rửa các vật dụng chứa nước trong nhà (lọ hoa, chậu nước dưới chân tủ thức ăn, hòn non bộ). Tăng cường vai trò vận động, giám sát, hổ trợ hộ gia đình nhân dân của các cộng tác viên, các cán bộ đoàn thể, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa công tác CSSK tại địa phương (trong kết quả nghiên cứu, vai trò của các cán bộ này là chưa rõ ràng).
Tăng cường công tác Truyền thông - Giáo dục sức khỏe thông qua các phương tiện giải trí như Tivi, Radio, hệ thống loa phát thanh.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Danh (2005), Kiến thức -Thái độ -Hành vi về phòng chống SXH của người dân xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng nai năm 2005, luận văn tốt nghiệp Bác sỹ chuyên khoa cấp 1 YTCC, TP HCM, 2005 2. Nguyễn Hoàng Dũng (2002), Kiến thức -Thái độ -Hành vi trong phòng chống SXH của người dân tại thị trấn Ngã Năm, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2002, luận văn tốt nghiệp Bác sỹ chuyên khoa cấp 1YTCC, TP HCM, 2002. 3. Hội Y tế công cộng Hoa Kỳ (1995). Sổ tay kiểm soát các bệnh truyền nhiễm (tái bản lần thứ 16). Tài liệu dịch, Nhà xuất bản Y học, 1997. Trang 364-370 4. Lý Lệ Lan (2004), Khảo sát Kiến thức -Thái độ -Thực hành phòng chống SXH của người dân quận 5, thành phố HCM năm 2004, luận văn tốt nghiệp Bác sỹ chuyênkhoa cấp 1 YTCC, TP HCM, 2004, trang 71-75 5. Vũ Sinh Nam (2007). Kiểm soát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam. Tài liệu trình bày tại hội thảo Social and Ecological Factors in Emerging Infectious Diseases: Toward an Ecosystem Approach to Research and Control of Avian Influenza (H5N1) and Dengue, September12-13, 2007. Hotel Melia, Hanoi, Vietnam. 6. Sở Y tế Đồng Tháp, Trung tâm Y tế dự phòng (2005), Báo các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết năm 1995- 2005 7. Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương, Hướng dẫn giám sát Dengue và phòng chống véc tơ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, năm 2002, trang 5-21 8. World Health Organization (1995). Key Issues in Dengue Vector Control Towards the Operationalization of a Global Strategy. Geneva: World Health Organization, CTD/FIL(DEN)/IC/95.1
|
|
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:53 |
- Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005
- Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H tại hai quận Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, năm 2006
- Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại
- Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên
- Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










