Polls
Announcement
| Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên |
| Written by TS. Lê Cự Linh(*), Ths. Nguyễn Thanh Hà(**), Ths. Bùi Thị Tú Quyên(***) | |||||
| Monday, 26 October 2009 23:03 | |||||
Page 1 of 3 There are no translations available. Trường Đại học Y tế Công cộng (ĐH YTCC) đã tiến hành đánh giá chương trình đào tạo Cao học YTCC thông qua một nghiên cứu trên toàn bộ cựu học viên cao học của trường từ khóa 1 đến khóa 7 (1996-2006). Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp giữa định lượng và định tính được thực hiện năm 2006 nhằm mô tả và phân tích những nhận định chung của các cựu học viên YTCC về chương trình đào tạo đểgiúp hoàn thiện chương trình đào tạo Thạc sĩ YTCC. Tổng số 146 cựu học viên trong số 187 người thuộc 7 khóa Cao học YTCC đã tham gia nghiên cứu này. Kết quả cho thấy nhìn chung cựu học viên đánh giá cao chương trình đào tạo đã học. Họ vận dụng thường xuyên và khá tự tin các kiến thức và kỹ năng YTCC học được từ chương trình cao học. Các năng lực này được chia thành 4 nhóm chính: nhóm năng lực quản lý y tế công cộng, nhóm năng lực đào tạo/tập huấn, nhóm năng lực nghiên cứu/đánh giá, và nhóm năng lực về lãnh đạo theo những chuẩn mực quốc tế. Mặc dù nhận định chung là tốt, cựu học viên vẫn mong muốn tăng cường kỹ năng phân tích số liệu, kỹ năng ra quyết định và phối hợp liên ngành trong YTCC. Khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vào rà soát các môn học, cải tổ cấu trúc chương trình đào tạo để tăng tính mềm dẻo và đào tạo theo định hướng nghiên cứu, quản lý, cũng như định hướng việc đào tạo liên ngành. Từ khóa: Cựu sinh viên Cao học y tế công cộng, Thạc sĩ y tế công cộng, năng lực y tế công cộng.
Evaluation on Master of Public Health Training Program: The first 10 years
This study aims to describe and analyze the overall evaluation of the first 7 cohorts of MPH alumni of HSPH from 1996-2006 as well as the applicability of the knowledge and skills acquired based on the opinion of MPH alumni of HSPH. We requested 187 graduates to complete a self-administered questionnaire and conducted in-depth interviews with 8 alumni as well as a focus group discussion with 14 alumni, using group nominal technique. In total 79.1% (148) of the MPH graduates com- pleted and returned the questionnaire. Overall, the MPH alumni felt that HSPH emphasized research methods at the expense of some management and operational competencies.The most commonly selected of the 34 pre-identified public health competencies were: applying computer skills (66.4%), planning and managing health programs (47.9%), communicating with the community and/or mobi- lizing the community to participate in health care (43.2%). The most important challenges at work identified by the alumni were insufficient skills in: data analysis, decision making, inter-sectoral cooperation development, English language and training. These findings suggested that the training program should be reviewed and revised to meet the needs of its graduates who enter diverse situa- tions and positions. The training program should be geared toward at least two tracks: research- based and management/pratice-based to provide more flexibility. Interdisciplinary approach should be further emphasized.
Key word: Master of Public Health Alumni, Master of Public Health, public health competency.
Các tác giả
1. Lê Cự Linh (Tiến sĩ YTCC) - Trưởng phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Y tế công cộng 138 Giảng Võ, Hà Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .
2. Nguyễn Thanh Hà (Thạc sĩ Y tế công cộng, bác sĩ) - Giảng viên Bộ môn Dinh dưỡng - VSATTP, cán bộ Phòng Đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Y tế Công cộng 138 Giảng Võ, Hà Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
3. Bùi Thị Tú Quyên (Thạc sĩ Y tế công cộng, bác sĩ) - Giảng viên Bộ môn Thống kê Trường Đại học Y tế Công cộng 138 Giảng Võ, Hà Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .
1. Đặt vấn đề Đại học Y tế Công cộng (ĐH YTCC) ra đời trên cơ sở Trường Cán bộ Quản lý ngành Y tế (CBQ- LYT) theo Quyết định số 65/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ với nhiệm vụ chính là đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn, chỉ đạo chuyên ngành về y tế công cộng. Năm 1996, Trường chuẩn bị chương trình và hoạt động xây dựng chương trình đào tạo Thạc sĩ Y tế công cộng (YTCC), áp dụng cách tiếp cận mới: "Đào tạo YTCC gắn liền với thực địa (Public Health School Without Wall - PHSWOW). Cho tới năm 2006, tổng số 187 học viên của 7 khóa cao học YTCC đầu tiên đã ra trường và tỏa về làm việc tại các cơ sở ở các tuyến khác nhau trên cả nước. Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu mô tả và phân tích những nhận định chung của các cựu học viên Y tế công cộng nói trên về chương trình đào tạo để hoàn thiện chương trình đào tạo Thạc sĩ YTCC.
2. Phương pháp nghiên cứu
2 .1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu Đối tượng bao gồm tất cả các cựu học viên Cao học YTCC của Trường ĐH YTCC (từ khóa 1 đến khóa 7), tổng cộng là 187 người.Nghiên cứu được triển khai tại Hà Nội (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và các tỉnh có cựu học viên đang công tác thông qua bộ phiếu phát vấn tự điền gửi cho từng cựu học viên. Quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2006.
2.2. Thiết kế nghiên cứu Sử dụng nghiên cứu định lượng (mô tả cắt ngang) kết hợp với nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định lượng: Điều tra cựu học viên thông qua bộ phiếu phát vấn tự điền: Chọn toàn bộ 187 cựu học viên Cao học YTCC của ĐH YTCC tham gia trả lời bộ câu hỏi phát vấn.Nhóm nghiên cứu thu thập các thông tin cập nhật nhất về địa chỉ liên lạc, các bộ phiếu tự điền sau đó được chuyển tới những cựu học viên thông qua dịch vụ thư chuyển phát nhanh (EMS) kèm theo phong bì dán sẵn địa chỉ trường ĐH YTCC. Sau khi điền phiếu, cựu học viên chỉ cần gửi vào hòm thư bưu điện nơi gần nhất. Nghiên cứu định tính: Tổ chức hội thảo với các đối tượng cựu học viên nói trên, tổng số 14 học viên đã tham dự. Kỹ thuật phỏng vấn nhóm, xếp hạng ưu tiên được sử dụng để thu thập thông tin trong các buổi hội thảo này. Ngoài ra 8 cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành đối với các cựu học viên công tác tại các tỉnh xa. Số liệu được làm sạch và quản lý trên hệ cơ sở dữ liệu Microsoft Access 2003. Số liệu định lượng được mã hóa và phân tích, sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 12.0 với các phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích hai biến. Số liệu định tính được ghi băng, rải băng, mã hóa và phân tích theo chủ đề. Kết quả thảo luận và phỏng vấn nhóm được phân tích dựa trên danh sách các chủ đề thảo luận và thứ tự ưu tiên.
3. Kết quả
3.1. Thông tin chung về cựu học viên và công việc hiện tại Trong tổng số 187 cựu học viên, 146 người đã gửi lại phiếu phát vấn (tỷ lệ trả lời là 79,1%), phần lớn cựu học viên hiện nay đang làm việc tại miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội (hình 1). Phân bố cựu học viên theo tuổi và giới được trình bày trong bảng 1. Tuổi trung bình của cựu học viên là 40,8 (nam: 41,5 và nữ 39,8). Hơn 57% cựu học viên nằm trong nhóm tuổi 36-45. Tuổi trung bình của học viên Cao học y tế công cộng khi bắt đầu nhập học là 35,3 (SD=5,7). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuổi trung bình khi nhập học của các khóa.
Hình 1. Phân bố của cựu học viên Cao học YTCC (dựa trên công việc hiện tại) Nơi công tác của cựu học viên được mô tả trong bảng 2, thể hiện sự đối lập giữa nghề nghiệp trước khi đi và nghề nghiệp hiện tại. Nhìn chung, 45% số cựu học viên làm việc cho các cơ quan chính phủ cấp tỉnh trước khi học Thạc sĩ y tế công cộng. Sau khi tốt nghiệp, vẫn có khoảng hơn 43% cựu học viên làm việc trong khu vực này. Lĩnh vực công tác hiện nay của cựu học viên Cao học y tế công cộng về cơ bản là trong lĩnh vực y tế dự phòng/y tế công cộng (59%).
Bảng 3 thể hiện sự thay đổi vị trí công tác của cựu học viên Cao học y tế công cộng trước và sau khi học thạc sĩ. Nhìn chung, các cựu học viên đều có vị trí cao hơn sau khi tốt nghiệp. Về những nhiệm vụ mà các cựu học viên hiện đang thực hiện, chúng tôi cũng so sánh các nhiệm vụ này theo vị trí công tác của họ hiện nay. Kết quả được trình bày trong bảng 4. Nhìn chung, những nhiệm vụ mà cựu học viên hay phải thực hiện nhất là giống nhau ở các vị trí công tác. Tuy nhiên, ở vị trí công tác cao hơn, lập kế hoạch và đào tạo được thực hiện thường xuyên hơn.
|
|||||
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:53 |
- Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005
- Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H tại hai quận Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, năm 2006
- Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại
- Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










