Tiếng Việt (Vietnamese)
Banner

Polls

Content of the VPHA's website
 

Announcement

Latest report of the Vietnam Public Health Association was updated here. Please pay attention.

Upcoming Events

<<  May 2012  >>
   1  2  3  4  5  6
  7  8  910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   

Publications

an pham
Content View Hits : 211464
Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên  E-mail
Written by TS. Lê Cự Linh(*), Ths. Nguyễn Thanh Hà(**), Ths. Bùi Thị Tú Quyên(***)   
Monday, 26 October 2009 23:03
Article Index
Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên
Page 2
Page 3
All Pages
There are no translations available.



Trường Đại học Y tế Công cộng (ĐH YTCC) đã tiến hành đánh giá chương trình đào tạo Cao học YTCC thông qua một nghiên cứu trên toàn bộ cựu học viên cao học của trường từ khóa 1 đến khóa 7 (1996-2006). Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp giữa định lượng và định tính được thực hiện năm 2006 nhằm mô tả và phân tích những nhận định chung của các cựu học viên YTCC về chương trình đào tạo đểgiúp hoàn thiện chương trình đào tạo Thạc sĩ YTCC. Tổng số 146 cựu học viên trong số 187 người thuộc 7 khóa Cao học YTCC đã tham gia nghiên cứu này. Kết quả cho thấy nhìn chung cựu học viên đánh giá cao chương trình đào tạo đã học. Họ vận dụng thường xuyên và khá tự tin các kiến thức và kỹ năng YTCC học được từ chương trình cao học. Các năng lực này được chia thành 4 nhóm chính: nhóm năng lực quản lý y tế công cộng, nhóm năng lực đào tạo/tập huấn, nhóm năng lực nghiên cứu/đánh giá, và nhóm năng lực về lãnh đạo theo những chuẩn mực quốc tế. Mặc dù nhận định chung là tốt, cựu học viên vẫn mong muốn tăng cường kỹ năng phân tích số liệu, kỹ năng ra quyết định và phối hợp liên ngành trong YTCC. Khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vào rà soát các môn học, cải tổ cấu trúc chương trình đào tạo để tăng tính mềm dẻo và đào tạo theo định hướng nghiên cứu, quản lý, cũng như định hướng việc đào tạo liên ngành.

Từ khóa: Cựu sinh viên Cao học y tế công cộng, Thạc sĩ y tế công cộng, năng lực y tế công cộng.

 

 

Evaluation on Master of Public Health Training Program: The first 10 years

 

This study aims to describe and analyze the overall evaluation of the first 7 cohorts of MPH alumni of HSPH from 1996-2006 as well as the applicability of the knowledge and skills acquired based on the opinion of MPH alumni of HSPH. We requested 187 graduates to complete a self-administered questionnaire and conducted in-depth interviews with 8 alumni as well as a focus group discussion with 14 alumni, using group nominal technique. In total 79.1% (148) of the MPH graduates com- pleted and returned the questionnaire. Overall, the MPH alumni felt that HSPH emphasized research methods at the expense of some management and operational competencies.The most commonly selected of the 34 pre-identified public health competencies were: applying computer skills (66.4%), planning and managing health programs (47.9%), communicating with the community and/or mobi- lizing the community to participate in health care (43.2%). The most important challenges at work identified by the alumni were insufficient skills in: data analysis, decision making, inter-sectoral cooperation development, English language and training. These findings suggested that the training program should be reviewed and revised to meet the needs of its graduates who enter diverse situa- tions and positions. The training program should be geared toward at least two tracks: research- based and management/pratice-based to provide more flexibility. Interdisciplinary approach should be further emphasized.

 

Key word: Master of Public Health Alumni, Master of Public Health, public health competency.

 

Các tác giả

 

1. Lê Cự Linh (Tiến sĩ YTCC) - Trưởng phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Y tế công cộng 138 Giảng Võ, Hà

Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .

 

2. Nguyễn Thanh Hà (Thạc sĩ Y tế công cộng, bác sĩ) - Giảng viên Bộ môn Dinh dưỡng - VSATTP, cán bộ Phòng Đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Y tế Công cộng 138 Giảng Võ, Hà Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 

3. Bùi Thị Tú Quyên (Thạc sĩ Y tế công cộng, bác sĩ) - Giảng viên Bộ môn Thống kê Trường Đại học Y tế Công cộng 138

Giảng Võ, Hà Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .

 

 

1. Đặt vấn đề

Đại học Y tế Công cộng (ĐH YTCC) ra đời trên cơ sở Trường Cán bộ Quản lý ngành Y tế (CBQ- LYT) theo Quyết định số 65/2001/QĐ-TTg ngày

26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ với nhiệm vụ chính là đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn, chỉ đạo chuyên ngành về y tế công cộng. Năm 1996, Trường chuẩn bị chương trình và hoạt động xây dựng chương trình đào tạo Thạc sĩ Y tế công cộng (YTCC), áp dụng cách tiếp cận mới: "Đào tạo YTCC gắn liền với thực địa (Public Health School Without Wall - PHSWOW). Cho tới năm 2006, tổng số 187 học viên của 7 khóa cao học YTCC đầu tiên đã ra trường và tỏa về làm việc tại các cơ sở ở các tuyến khác nhau trên cả nước. Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu mô tả và phân tích những nhận định chung của các cựu học viên Y tế công cộng nói trên về chương trình đào tạo để hoàn thiện chương trình đào tạo Thạc sĩ YTCC.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

 

2 .1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng bao gồm tất cả các cựu học viên Cao học YTCC của Trường ĐH YTCC (từ khóa 1 đến khóa 7), tổng cộng là 187 người.Nghiên cứu được triển khai tại Hà Nội (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và các tỉnh có cựu học viên đang công tác thông qua bộ phiếu phát vấn tự điền gửi cho từng cựu học viên. Quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2006.

 

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng nghiên cứu định lượng (mô tả cắt ngang) kết hợp với nghiên cứu định tính.

Nghiên cứu định lượng: Điều tra cựu học viên

thông qua bộ phiếu phát vấn tự điền: Chọn toàn bộ 187 cựu học viên Cao học YTCC của ĐH YTCC tham gia trả lời bộ câu hỏi phát vấn.Nhóm nghiên cứu thu thập các thông tin cập nhật nhất về địa chỉ liên lạc, các bộ phiếu tự điền sau đó được chuyển tới những cựu học viên thông qua dịch vụ thư chuyển phát nhanh (EMS) kèm theo phong bì dán sẵn địa chỉ trường ĐH YTCC. Sau khi điền phiếu, cựu học viên chỉ cần gửi vào hòm thư bưu điện nơi gần nhất.

Nghiên cứu định tính: Tổ chức hội thảo với các đối tượng cựu học viên nói trên, tổng số 14 học viên đã tham dự. Kỹ thuật phỏng vấn nhóm, xếp hạng ưu tiên được sử dụng để thu thập thông tin trong các buổi hội thảo này. Ngoài ra 8 cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành đối với các cựu học viên công tác tại các tỉnh xa. Số liệu được làm sạch và quản lý trên hệ cơ sở dữ liệu Microsoft Access 2003. Số liệu định lượng được mã hóa và phân tích, sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 12.0 với các phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích hai biến. Số liệu định tính được ghi băng, rải băng, mã hóa và phân tích theo chủ đề. Kết quả thảo luận và phỏng vấn nhóm được phân tích dựa trên danh sách các chủ đề thảo luận và thứ tự ưu tiên.

 

3. Kết quả

 

3.1. Thông tin chung về cựu học viên và công việc hiện tại

Trong tổng số 187 cựu học viên, 146 người đã gửi lại phiếu phát vấn (tỷ lệ trả lời là 79,1%), phần lớn cựu học viên hiện nay đang làm việc tại miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội (hình 1). Phân bố cựu học viên theo tuổi và giới được trình bày trong bảng 1. Tuổi trung bình của cựu học viên là 40,8 (nam: 41,5 và nữ 39,8). Hơn 57% cựu học viên nằm trong nhóm tuổi 36-45. Tuổi trung bình của học viên Cao học y tế công cộng khi bắt đầu nhập học là 35,3 (SD=5,7).

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tuổi trung bình khi nhập học của các khóa.

 

 

Hình 1. Phân bố của cựu học viên Cao học YTCC (dựa trên công việc hiện tại)

Nơi công tác của cựu học viên được mô tả trong bảng 2, thể hiện sự đối lập giữa nghề nghiệp trước khi đi và nghề nghiệp hiện tại. Nhìn chung, 45% số cựu học viên làm việc cho các cơ quan chính phủ cấp tỉnh trước khi học Thạc sĩ y tế công cộng. Sau khi tốt nghiệp, vẫn có khoảng hơn 43% cựu học viên làm việc trong khu vực này. Lĩnh vực công tác hiện nay của cựu học viên Cao học y tế công cộng về cơ bản là trong lĩnh vực y tế dự phòng/y tế công cộng (59%).

 

 


Bảng 3 thể hiện sự thay đổi vị trí công tác của cựu học viên Cao học y tế công cộng trước và sau khi học thạc sĩ. Nhìn chung, các cựu học viên đều có vị trí cao hơn sau khi tốt nghiệp.

 

Về những nhiệm vụ mà các cựu học viên hiện đang thực hiện, chúng tôi cũng so sánh các nhiệm vụ này theo vị trí công tác của họ hiện nay. Kết quả được trình bày trong bảng 4. Nhìn chung, những nhiệm vụ mà cựu học viên hay phải thực hiện nhất là giống nhau ở các vị trí công tác. Tuy nhiên, ở vị trí công tác cao hơn, lập kế hoạch và đào tạo được thực hiện thường xuyên hơn.

 


 

3.2. Nhận định về chương trình thạc sĩ YTCC

Trong điều tra định lượng, cấu phần về nhận định chung của cựu học viên gồm 3 nội dung chính: ý kiến chung về chương trình cao học tại ĐH YTCC, cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy, đội ngũ giáo viên và nhân viên hỗ trợ và ý kiến khác. Những nhận định chung được trình bày trong hình 2 theo tỷ lệ cựu học viên trả lời đồng ý, không đồng ý và không biết với từng ý kiến. ấn tượng chung là chương trình cao học YTCC được thiết kế sát với yêu cầu công việc của cán bộ y tế công cộng (91% đồng ý), và phù hợp với công việc mà họ đang đảm nhiệm (84,4%). Tổng cộng có 96% cựu học viên hài lòng với những gì họ học được tại ĐH YTCC và 95% nói rằng chương trình Thạc sĩ YTCC giúp họ nâng cao uy tín chuyên môn. 90% cựu học viên hài lòng với chương trình đào tạo nói chung và 86,4% đồng ý rằng chương trình đào tạo được cập nhật những kiến thức mới. Tuy nhiên, về cấu trúc của chương trình, tỷ lệ phần trăm cựu học viên đồng ý rằng cấu trúc các môn học trong chương trình khá cân đối thấp hơn, chiếm 73%.

Để tìm hiểu quan điểm của cựu học viên về từng môn học cụ thể (môn học lý thuyết) mà họ đã học ở trường ĐH YTCC và tầm quan trọng của những môn học này đối với công việc thường ngày của họ, các cựu học viên được yêu cầu cho ý kiến về từng chủ đề/môn học. Kết quả được trình bày trong bảng 5.

 

Về khối lượng kiến thức được cung cấp trong các môn học của chương trình thạc sĩ YTCC, hai môn học mà cựu học viên cho rằng có quá nhiều kiến thức là: dịch tễ và phương pháp nghiên cứu khoa học (7,4% mỗi môn). Tuy nhiên, những môn này cũng được đánh giá là quan trọng nhất đối với công việc thường ngày (lần lượt là 84,4% và 87,7% mỗi môn), chỉ sau tin học cơ bản (92,5%). Ngược lại những môn học mà cựu học viên đánh giá là không được cung cấp đầy đủ kiến thức là phương pháp nghiên cứu định tính (48%), tiếng Anh (49,7%) và phân tích số liệu (46,6%). Ba môn học này cũng được xem là tương đối quan trọng (tỷ lệ cựu học viên khẳng định các môn này là quan trọng chiếm từ 67% đến 75%).

Một số kết quả nêu trên cũng được khẳng định trong các câu hỏi mở. Ý kiến của cựu học viên trong các phần hỏi mở của bộ câu hỏi định lượng chủ yếu liên quan đến những nội dung sau: 1) Học viên cao học cần được đào tạo thêm về phân tích số liệu, về viết báo cáo khoa học, các kỹ năng trình bày/thảo luận; 2) Chủ đề của bài tập tại thực địa và luận văn cần linh hoạt hơn, cho phép làm luận văn tại nơi công tác; 3) Nhu cầu về các môn tự chọn và sự chỉnh sửa một số môn ít quan trọng hơn (như y học lao động, phục hồi chức năng); 4) Cần phát triển các chuyên ngành thạc sĩ y tế công cộng; 5) Cần nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên của trường, rất nhiều giảng viên còn trẻ và thiếu kinh nghiệm; và 6) Cần nâng cao chất lượng của một số dịch vụ tại ĐH YTCC như thư viện và tiếp cận thông tin.

 

 

 

 

3.3. Thực hành năng lực Y tế Công cộng

Đối với chuyên ngành YTCC, có nhiều hệ thống đánh giá năng lực khác nhau, nghiên cứu này sử dụng những khuyến cáo của Mạng lưới các cơ sở đào tạo y tế công cộng của Châu Á- Thái Bình Dương (SEAPHEIN) và một số nghiên cứu về cựu sinh viên YTCC tại Australia [1, 2, 3] để tìm hiểu mức độ sử dụng và sự tự tin khi sử dụng những năng lực này. Tổng số có 34 năng lực được liệt kê theo 4 nhóm chính: nhóm năng lực về quản lý, nhóm năng lực đào tạo/tập huấn, nhóm năng lực về nghiên cứu đánh giá và nhóm năng lực về lãnh đạo. Nhóm năng lực đầu tiên được trình bày trong bảng 6.

Kết quả cho thấy năng lực số 5 (lập kế hoạch và quản lý chương trình y tế) được các cựu học viên sử dụng nhiều nhất trong tổng số 10 năng lực quản lý y tế công cộng (47,9% thường xuyên sử dụng năng lực này), tiếp đó là theo dõi các vấn đề sức khỏe/dịch bệnh ở một cộng đồng (37%), và xây dựng các chỉ số và công cụ để theo dõi sức khỏe ở một cộng đồng (35,2%). Năng lực ít được sử dụng nhất là đánh giá, cập nhật và phát triển các quy định về y tế công cộng (17,9%).

 

Trong số các năng lực về nghiên cứu và đánh giá trong y tế công cộng (bảng 7), sử dụng công nghệ thông tin hiệu quả là năng lực được cựu học viên sử dụng thường xuyên nhất (66,4%), tiếp đó là thu thập thông tin y tế ở một cộng đồng (41,1%). Tuy vậy, số liệu trong bảng 7 cho thấy chỉ có 36,5% số cựu học viên nói rằng họ thấy tự tin về việc sử dụng tiếng Anh hiệu quả, và đây là năng lực có mức độ tự tin thấp nhất trong tổng số 34 năng lực y tế công cộng. Thực tế có 70% cựu học viên khẳng định tiếng Anh rất quan trọng đối với công việc hiện tại của họ, 66,2% nói rằng họ thỉnh thoảng mới cần sử dụng tiếng Anh, 22% cần sử dụng tiếng Anh thường xuyên nhưng chỉ có 36,5% cảm thấy tự tin về tiếng Anh của họ. Phân tích hồi quy logistic cho thấy chỉ có một yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với việc không tự tin khi sử dụng tiếng Anh, đó là nhận thức tiếng Anh là quan trọng hay không quan trọng. Cụ thể là, những người có quan điểm tiếng Anh là không quan trọng (hay ít quan trọng) tỏ ra ít tự tin về khả năng tiếng Anh của mình cao gấp 3,1 lần so với những người coi tiếng Anh là quan trọng.

 

 


4. Bàn luận

So sánh với nghiên cứu trước trên học viên cao học YTCC do Nguyễn Đức Thành thực hiện năm 2002 và đánh giá của Quỹ Rockefeller năm 2000, kết quả nghiên cứu này đưa ra những đo lường mang tính định lượng hơn về quan điểm của cựu học viên [1,5]. Hơn thế nữa, nghiên cứu này cũng mang lại cho chúng ta những bằng chứng cụ thể hơn về yêu cầu hoàn thiện chương trình thạc sĩ YTCC hiện tại. Một số nội dung bàn luận ở trên cũng được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành, năm 2002 như nhu cầu tăng cường các kỹ năng phân tích số liệu hay tính cấp bách của việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã tìm hiểu một cách sâu hơn về các môn học lý thuyết cụ thể trong chương trình cũng như những nhu cầu khác về việc định hướng chương trình cho học viên cao học.

Nhìn chung, cấu trúc chương trình thạc sĩ YTCC được cựu học viên đánh giá là tốt, với năm đầu học lý thuyết ở trường và năm thứ hai học tập tại thực tế tại thực địa. Tuy nhiên cần phải phát triển chương trình theo hình thức linh hoạt hơn như các chương trình đào tạo thạc sĩ YTCC theo hình thức tín chỉ ở các nước phát triển, cho phép học viên học những môn chính (bắt buộc) và những môn tự chọn.Nhu cầu về việc phát triển chương trình theo ít nhất 2 hướng là rất rõ ràng. Hầu hết học viên đều công nhận rằng nghiên cứu không phải là nhiệm vụ duy nhất và trong đa số trường hợp nó không phải là nhiệm vụ chính mà họ phải thực hiện thường ngày. Chính vì vậy, rõ ràng là cấu phần nghiên cứu của chương trình thạc sĩ YTCC cần phải được duy trì nhưng vẫn cần phải bổ sung thêm cấu phần theo hướng quản lý/mang tính thực hành nhiều hơn, đây cũng là nhu cầu của đa số học viên cao học YTCC.

Một điều quan trọng là mặc dù mức độ tự tin của cựu học viên khi sử dụng những năng lực YTCC là khá cao (trừ trường hợp khả năng tiếng Anh và khả năng làm việc trong những môi trường văn hóa khác nhau), nhưng thông tin định tính và kết quả thu được khi sử dụng kỹ thuật nhóm định danh cho thấy các cựu học viên đang thực sự gặp những khó khăn là thiếu các kỹ năng/năng lực trong cả 4 nhóm năng lực nêu trên. Những năng lực cũng là khó khăn nổi trội nhất là: phân tích số liệu, ra quyết định, phối hợp liên ngành, khả năng tiếng Anh và đào tạo/tập huấn cho cán bộ dưới quyền cũng như các nhân viên tuyến dưới. Kết quả này, kết hợp với những kết quả định tính trình bày ở trên đã khẳng định những vấn đề thuộc chương trình cao học YTCC hiện tại cần phải hoàn thiện, đặc biệt là yêu cầu cải thiện việc đào tạo tiếng Anh, phân tích số liệu, phương pháp sư phạm và một số kỹ năng học thuật khác. Những kết quả này một lần nữa khẳng định rằng phần lớn công việc của cựu học viên YTCC có liên quan tới lĩnh vực quản lý và lãnh đạo chứ không phải là các năng lực nghiên cứu. Những khuyến cáo chính mà nghiên cứu này chỉ ra bao gồm:

 

● ĐH YTCC cần cân nhắc tới việc: 1) chỉnh sửa lại khung chương trình để xác định những môn chính (bắt buộc) và những môn tự chọn; 2) thay đổi (nếu cần thiết) nội dung và số đơn vị học trình của mỗi môn; 3) phát triển và đưa vào thực hiện đào tạo các môn bổ sung để đáp ứng nhu cầu của học viên.

● Tất cả các hoạt động chỉnh sửa chương trình này phải được thực hiện theo phương thức phân nhánh (định hướng), có nghĩa là mỗi học viên được phép quyết định xem họ muốn học để theo hướng nghiên cứu/học thuật hay theo hướng quản lý/thực hành.

● Trước những nhu cầu rõ ràng của học viên, ĐH YTCC cần đưa thêm các cấu phần đào tạo về phân tích số liệu, phương pháp nghiên cứu định tính (đặc biệt là cho những người muốn làm nhiều hơn về nghiên cứu), và một số môn bổ sung có tính ứng dụng cao như kỹ năng quả lý dự án, theo dõi và đánh giá, đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA), v.v... cho những người muốn làm nhiều về các hoạt động quản lý chương trình/dự án.


 

● Rà soát một cách nghiêm túc và có hệ thống quá trình giảng dạy và học tiếng Anh tại ĐH YTCC. Bộ môn Ngoại ngữ cần phải đánh giá thêm về chương trình đào tạo hiện tại để tìm ra phương pháp thích hợp nhất nhằm đưa vào giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành y tế công cộng.

● Kết quả về năng lực mà cựu học viên sử dụng cũng như những khó khăn mà họ phải đối mặt trong công việc cung làm nảy sinh yêu cầu cần phải thực hiện đào tạo mang tính liên ngành.

Những nội dung cắt ngang yêu cầu các bộ môn phải tương tác chặt chẽ với nhau để tránh trùng lắp cũng như mang lại cho học viên cách nhìn tổng quát hơn. Về lâu dài, ĐH YTCC cần chú trọng hơn nữa vào phương thức toàn diện, áp dụng phương pháp học tập dựa trên tình huống/vấn đề (scenario-based learning) để có thể giảng dạy theo các nhóm năng lực.

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

 

1. Nguyễn Đức Thành (2002). Tìm hiểu qui trình học tập của học viên cao học Y tế công cộng và các yếu tố ảnh hưởng. Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội, 2002. (báo cáo nghiên cứu, chưa xuất bản).

 

2. Bury Jacques; Gliber Martina. Quality Improvement & Accreditation of Training Program in Public Health, Foundation Merieux Association of School of Public Health in the European region, July 2001.

 

3. National Public Health Partnership (2000). "National Delphi Study on Public Health Functions in Australia: Report on the findings" (manuscript unpublished), Melbourne, Australia.

 

4. World Health Organization Western Pacific Region, 2003. Essential Public Health Functions A three-country study in the Western Pacific Region.

5. PHSWOW External Evaluation Team of the Rockefeller Foundation. Report on a visit to the Hanoi School of Public Health, Hanoi, Vietnam, December 2000. (draft version, unpublished).

 

Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:53
 
American Cancer  Society
Australian  Public Health Association
The Atlantic  Philanthropies
Ford  foundation
South east Asia  tobacco control alliance
International Union Against Tuberculosis and Lung Disease
Canadian Public  Health Association
World Federation of Public Health Associations
HealthBridge  Canada
Bản quyền hội Y tế công cộng Việt Nam (ghi rõ khi trích dẫn các nguồn thông tin từ website này).
Website xây dựng dựa trên nền tảng Joomla Framework. Hiển thị tốt nhất với trình duyệt Firefox 3.5 & độ phân giải 1024 x 768)
Quảng cáo: Noi that hoa phat - Ban ghe hoa phat - Tap doan Hoa Phat - ban ghe van phong - noi that van phong - ket sat hoa phat - hoa phat