Polls
Announcement
| Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005 |
| Written by BS.Hoàng Văn Huỳnh(*); ThS. Lê Thị Vui(**) | ||||
| Monday, 26 October 2009 23:58 | ||||
Page 1 of 2 There are no translations available. Nghiên cứu được tiến hành trên 7 xã /thị trấn thuộc hệ thống giám sát Dân số -Dịch tễ học (CHILILAB) ở huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương từ 10/2006 đến 2/2007 nhằm xác định tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) năm 2005 và mô tả một số yếu tố liên quan đến TSGTKS trên địa bàn. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp của hệ thống CHILILAB và phỏng vấn trực tiếp 262 bà mẹ được chọn ngẫu nhiên từ 804 bà mẹ (BM) sinh con trong năm 2005 với bộ câu hỏi có cấu trúc, và phỏng vấn sâu 8 phụ nữ đã nạo phá thai trong 6 tháng đầu năm 2006 tại hộ gia đình. Những kết quả chủ yếu là: TSGTKS năm 2005 ở địa bàn là 106,4; nhưng có sự chênh lệnh khá nhiều giữa các xã /thị trấn và sự khác nhau theo các lần sinh, điều kiện kinh tế (ĐKKT) và nhóm tuổi. Phần lớn các cặp vợ chồng đều mong muốn có 2 con và có cả trai lẫn gái; ở lần sinh đầu tiên, giới tính của con không phải là điều quan trọng nhất. Nhưng từ lần sinh thứ 2 trở đi thì tỷ lệ mong con trai có sự khác biệt lớn giữa những người đã có và chưa có con trai. Có 22,5% BM biết biện pháp sinh con theo ý muốn, nhưng chỉ có 18,6% trong số này áp dụng. Có 84,4% biết giới tính con trước sinh, tất cả đều bằng siêu âm (SÂ), và 91% cho rằng không có khó khăn trong việc biết giới tính con khi SÂ. Nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị:1.Tiếp tục theo dõi vấn đề này trên địa bàn. 2. Tích cực truyền thông bình đẳng giới, tập trung vào đối tượng sinh toàn con gái và có ĐKKT khá. 3. Tăng cường giám sát việc thực hiện nghiêm quy định cấm tiết lộ giới tính trẻ khi SÂ. Từ khóa: tỉ số giới tính khi sinh, siêu âm.
Sex ratio at birth of newborn babies and relevant factors in Chi Linh district, Hai Duong province in 2005 This research was conducted in 7 communes/towns that belong to the Demographic- Epidemiological Surveillance System (DESS) in Chi Linh District (CHILILAB), Hai Duong Province between October 2006 and February 2007. This research was conducted in order to clarify the sex ratio at birth of newborn babies in Chi Linh District in 2005 and to describe factors that influence the sex ratio with- in this area. This research involved analysis of a combination of secondary data from the CHILILAB system, a structured questionnaire given directly to 262 mothers randomly selected from 804 moth- ers in Chi Linh who gave birth in 2005, in-depth interviews with 8 women who had abortions during the first 6 months of 2006. According to this research, the sex ratio at birth in 2005 in CHILILAB was 106.4. This result varied according to frequency of birth-giving, economic conditions and age groups. Most of couples expected to have two babies - one boy and one girl. At the first delivery, these couples did not consider the gender of the baby to be very important. But from the second birth, the proportion of couples who wanted to have baby boy was different from that of couples who already had a boy. This research found that 22.5% of women know about sex selection methods but only 18.5% of those women apply these methods. 84.4% of expecting mothers knew the sex of the baby before birth through ultra-sound and 91.1% found no difficulty in knowing about that when taking ultra- sound. Several recommendations were made from this research such as (1). continuing to follow up these issues in this area, (2) promoting communication on gender equality (focusing on those cou- ples having all baby girls and living in good economic conditions), and (3) strengthening the sur- veillance system that monitors forbidden disclosures of a baby's sex when giving pregnant mothers an ultra- sound service. Key words: Sex ratio at birth, ultra-sound.
1. Đặt vấn đề TSGTKS đựợc tính bằng số trẻ nam sinh sống trên 100 trẻ nữ sinh sống trong năm. Tỷ số này thường cao hơn tỷ số giới tính của toàn bộ dân số, và là yếu tố chủ yếu làm thay đổi cơ cấu giới tính ở các lứa tuổi và của toàn dân số trong tương lai [2]. Bình thường tỷ số này dao động từ 103-107, muốn có nhận định đầy đủ, chính xác về TSGTKS thì phải theo dõi số sinh trên địa bàn rộng, trong nhiều năm[4]. TSGTKS cao sẽ làm mất cân bằng giới tính, thừa nam thiếu nữ trong tương lai. Trên phạm vi toàn thế giới từ 1995-2005 TSGTKS là 105-106. Năm 2005 có 12 nước có TSGTKS cao hơn 107, chủ yếu ở châu Á và Đông Âu như: Trung Quốc: 119, Ấn Độ: 108 [4]. Ở Việt Nam TSGTKS theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1989 là 105, 1999 là 107 [2], giai đoạn 2000- 2006 theo điều tra biến động dân số 1/4 hàng năm dao động từ 104 -110 [4]. Trường Đại học Y tế Công cộng đang vận hành một hệ thống giám sát dân số, dịch tễ học tại huyện Chí Linh - Hải Dương (CHILILAB) từ tháng 7/2004 đến nay trên 7 xã /thị trấn (Văn An, An Lạc, Hoàng Tiến, Lê Lợi, Bến Tắm, Sao đỏ, Phả Lại), với tổng số dân khoảng 64 000 người. Theo số liệu báo cáo của CHILILAB, TSGTKS trên địa bàn giai đoạn từ tháng 7/2004 đến 6/2005 là 104, nhưng lại có một số xã /thị trấn có tỉ lệ này rất cao như An Lạc:153, Văn An:150. Theo nguồn số liệu lưu hàng năm của Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em (UBDSGĐ&TE) huyện thì TSGTKS trong những năm 2003-2005 của toàn huyện là rất cao (đều trên 120). Để tìm hiểu thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến TSGTKS trên địa bàn, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu cụ thể là:"Xác định TSGTKS năm 2005, tìm hiểu quan niệm của người dân về việc sinh con trai, con gái và mô tả một số yếu tố liên quan đến TSGTKS trên địa bàn.
2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu (NC) được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp NC định lượng, định tính và sử dụng số liệu thứ cấp. Đối tượng là bà mẹ (BM) sinh con trong năm 2005 và phụ nữ nạo phá thai trong 6 tháng đầu năm 2006. Thời gian nghiên cứu từ 10/2006 đến 2/2007 trên địa bàn CHILILAB. Số liệu thứ cấp về 804 bà mẹ sinh con năm 2005 được lấy từ dữ liệu của CHILILAB để tính toán TSGTKS, gồm cả theo lần sinh, ĐKKT và tuổi mẹ. NC định lượng tiến hành trên 262 BM được lựa chọn ngẫu nhiên trong số các BM sinh con trong năm 2005 để phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có cấu trúc; số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 13.0; dùng phương pháp thống kê mô tả và phân tích đơn biến, hai biến. NC định tính được thực hiện bằng phỏng vấn sâu 8 người nạo phá thai trong 6 tháng đầu năm 2006 tại hộ gia đình.
3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Kết quả phân tích số liệu thứ cấp
3.1.1.Thông tin chung về bà mẹ Có 42,5% BM dưới 25 tuổi còn 57,5% từ 25 tuổi trở lên, tuổi thấp nhất là 17, cao nhất là 49, tuổi trung bình là 25,3. Phần lớn các bà mẹ có nghề nghiệp là làm ruộng (41%); tiếp đến là buôn bán /dịch vụ (23,1%); viên chức, công chức (10,7%); còn lại là các nghề như công nhân, thủ công, nội trợ. ĐKKT gia đình của BM được phân theo Quintile, sau đó lại được phân tiếp thành 2 nhóm dưới trung bình (39,8%) và từ trung bình trở lên (60,2%). Các BM có học vấn Tiểu học là 5,7%, THCS chiếm 58,8%, THPT là 19,9%, trên THPT là 15,6%. Trong 804 BM thì có 50,5% sinh con lần đầu, 41,2% sinh lần hai và vẫn còn 8,2% sinh từ lần thứ 3 trở lên.
3.1.2. Tỷ số giới tính khi sinh % (OR=18,2. P<0,001). Còn ở lần sinh thứ ba thì tỷ lệ này là 100% và 7,7%. (OR=13. P<0,001). "Em không muốn sinh lần thứ 3 nữa nhưng vì chưa có con trai, mà chồng và bố mẹ chồng động viên rất nhiều nên đành phải cố" - Đối tượng nghiên cứu sinh con
TSGTKS chung cả năm 2005 là 106,4. ở lần sinh đầu là 120,7; lần hai là 80,4; lần ba là 214. TSGTKS ở nhóm các BM có ĐKKT từ trung bình trở lên là 112,1; dưới trung bình là 91,7. Nhóm BM dưới 25 tuổi có TSGTKS là 110,5; còn từ 25 tuổi trở lên là 103,5.
Ở phạm vi địa bàn xã /thị trấn thì có 3 nơi rất cao là Sao Đỏ:120, An Lạc:142, Lê Lợi:120,4. Nhưng các địa bàn còn lại đều dưới 100, thấp nhất là Bến Tắm:75,9.
3.2. Kết quả nghiên cứu định lượng và định tính
3.2.1. Quan niệm về sinh con trai, con gái Mong muốn sinh con trai của BM ở lần sinh đầu là 26,1%, lần sinh thứ hai tăng lên 35%, và lần sinh thứ ba là 54%. Trong đó ở lần sinh thứ nhất tỷ lệ mong muốn con trai của các BM có chồng là con trưởng hay con một là 28,3% còn có chồng là con thứ là 23,66% (OR=0,75; P>0,05). Một đối tượng NC tâm sự "Với em khi có thai lần đầu mong muốn quan trọng nhất của em là sinh nở được vuông tròn, có được một đứa con mạnh khỏe để nuôi là em hạnh phúc lắm rồi, chứ trai hay gái thì không quan trọng". Ở lần sinh thứ hai mong muốn con trai của các BM chưa có con trai là 64,9%; đã có con trai là 9,1
Lý do muốn sinh con trai để có nếp có tẻ chiếm 37,1%; tiếp đến là chỗ dựa khi về già, bệnh tật: 31,1%; thứ ba là nối dõi tông đường: 25%.
3.2.2. Một số thông tin liên quan khác Có 22,5% BM cho rằng họ có biết đến biện pháp sinh con theo ý muốn (BPSCTYM). Ba biện pháp được BM biết nhiều nhất là: Tính ngày rụng trứng để giao hợp (32,7%); tính tuổi vợ và tháng thụ thai (27,4%); chế độ ăn (23,0%). Thông tin mà họ biết được là từ sách /báo (47,2%); người thân /bạn bè (40,4%); cán bộ y tế (5%); tivi/đài (6,7%). Có 18,6% các BM đã áp dụng BPSCTYM trong lần sinh này. Có 84,4% BM biết giới tính của trẻ trước sinh, tất cả đều bằng siêu âm. Có 62,8% BM siêu âm ở cơ sở y tế tư nhân, còn 37,2% siêu âm tại cơ sở y tế nhà nước. Để biết được giới tính của thai nhi, có 91% BM cho rằng không có khó khăn gì trong việc hỏi người siêu âm về giới tính của trẻ. Có 51,9% BM cho là có việc nạo phá thai vì lý do giới tính ở địa phương. Một đối tượng NC cho biết "Em có biết người đã làm như thế. Nhà ấy kinh tế khá lắm, đã có 2 con gái rồi. Họ đi tận Hà Nội để phá thai, nhưng họ đều giấu và nói rằng bị sẩy thai thôi". Một BM khác nói "Ở địa phương em cũng có trường hợp như vậy. Em nghĩ là họ bất đắc dĩ phải làm thôi, vì thai lúc đó cũng to rồi, dù sao thì đó cũng là hòn máu của mình và đã thành hình người rồi. Nhưng vì chưa có con trai mà lại không được đẻ lần nữa nên họ đành phải phá đi, chắc là họ cũng day dứt lắm khi phải làm việc này...".
2.3. Thông tin về dự định lần sinh tiếp Phần lớn các bà mẹ mới có 1 con đều có ý định sinh nữa (90%), vẫn còn 9,2% các bà mẹ đã có đủ 2 con rồi mà vẫn muốn sinh thêm con thứ ba. Trong số các BM mới có một con, nếu là con gái thì có 98,1% muốn sinh tiếp, còn nếu là trai rồi thì chỉ có 83,6% muốn sinh thêm (OR=10,6. P<0,05). Trong số các BM có hai con nhưng đều là gái thì 28,1% muốn sinh tiếp, còn tỷ lệ này ở các BM đã có con trai là 5,8% (OR=6,4. P<0,001). |
||||
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:53 |
- Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H tại hai quận Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, năm 2006
- Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại
- Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên
- Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










