Main Menu
| Home |
| News |
| Journal |
| Annual conferences |
| Programs |
| Download |
| Gallery |
| Links |
| Contact us |
| Forum |
Polls
Announcement
| Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005 |
| Written by BS.Hoàng Văn Huỳnh(*); ThS. Lê Thị Vui(**) | |||||
| Monday, 26 October 2009 23:58 | |||||
Page 2 of 2
4. Bàn luận 4.1. Tỷ số giới tính khi sinh TSGTKS trên địa bàn CHILIALB năm 2005 là 106,4. Trong đó có hai xã và một thị trấn cao trên 120, các xã /thị trấn còn lại đều dưới 100. TSGTKS ở lần sinh đầu là 120,7 cao hơn TSGTKS của năm 2005 rất nhiều, nhưng lần sinh thứ hai thì lại chỉ có 80,4; đặc biệt lần sinh thứ ba trở lên thì rất cao (214). Theo tự nhiên thì xác xuất sinh của trẻ trai và trẻ gái là xấp xỉ bằng nhau, nên các BM đã sinh lần đầu là trai thì xác xuất sinh trẻ trai ở lần sinh tiếp theo sẽ ít đi [4]. Một số NC ở Trung Quốc và Ấn Độ cho rằng việc lựa chọn giới tính thường xẩy ra từ các lần sinh sau [4]. Liệu rằng đây có phải là kết quả ảnh hưởng của sự lựa chọn giới tính ở lần sinh thứ ba trở đi hay không? Trong khuôn khổ NC này của chúng tôi thì chưa đủ bằng chứng để trả lời cho câu hỏi này. Hay phải chăng đó chỉ là một sự ngẫu nhiên? TSGTKS của nhóm các BM có ĐKKT gia đình từ trung bình trở lên là 112, 1 cao hơn nhiều so với nhóm dưới trung bình chỉ có 91,7. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế, xã hội tới TSGTKS. Những người có đời sổng ổn định trở lên thì xu hướng quan tâm đến việc sinh con trai cũng tăng lên. Nhóm các BM dưới 25 tuổi có TSGTKS là 110,5(cao hơn mức bình thường), còn từ 25 tuổi trở lên là 103,5 (nằm trong giới hạn bình thường). Những kết quả trên giống với kết quả của một số NC ở Ấn Độ và Việt Nam[1,3,4]. Trong NC này TSGTKS lần đầu là rất cao: 120,7; mà tỷ lệ BM sinh lần đầu nằm trong nhóm tuổi dưới 25 nhiều hơn, do vậy có thể giải thích cho việc TSGTKS trong nhóm BM dưới 25 tuổi lại cao hơn nhóm từ 25 tuổi trở lên. Mặt khác vấn đề này còn có thể liên quan đến sự khác nhau về tình trạng sức khoẻ và sinh lý ở hai nhóm tuổi của các cặp vợ chồng. 4.2. Quan niệm về sinh con trai, con gái Ở lần sinh đầu tiên mong muốn lớn nhất của các BM là sinh nở được mẹ tròn con vuông chứ không phải là giới tính của con, và cũng không có sự khác biệt về mong muốn giới tính giữa các BM có chồng là con trưởng, con một với con thứ. Nhưng từ lần sinh thứ hai trở đi thì có sự khác biệt rõ ràng về mong muốn sinh con trai giữa những người đã có và chưa có con trai. Có 9,2% BM sinh con lần thứ ba và lý do chủ yếu là muốn giải toả áp lực chưa có con trai khá nặng nề từ phía chồng, gia đình chồng và cũng một phần từ chính bản thân BM. Những lý do nhiều nhất để các BM muốn sinh con trai hơn là con gái là: có nếp có tẻ: (37,1%); có chỗ dựa khi mắc bệnh tật hay về già (31,1%) và nối dõi tông đường (25%). Điều này cho thấy quan niệm phổ biến của người dân cho rằng trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, lo lắng công việc cha mẹ khi về già, thờ cúng tổ tiên là của con trai. Mặt khác cũng phản ảnh hệ thống bảo hiểm xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi, nên điều họ lo lắng cho những năm tháng tuổi già và mong muốn có con trai để có chỗ dựa cũng là điều dễ hiểu. 4.3. Một số thông tin liên quan khác Có 22,5% BM biết BPSCTYM. Tuy chưa có cơ sở để khẳng định tính khoa học của những biện pháp này, nhưng qua tìm hiểu trực tiếp từ các BM và những tài liệu mà các BM giới thiệu thì thấy rằng những biện pháp này nhằm tạo điều kiện cho tinh trùng Y hoặc X gặp trứng sớm hơn, do vậy có thể làm tăng khả năng thụ thai trai hoặc gái nhiều hơn. Qua đó cho thấy trong một chừng mực nhất định người dân đã tìm hiểu về vấn đề này. Thông tin về các BPSCTYM trong cộng đồng chủ yếu qua sách, tài liệu truyền tay từ người thân và bạn bè. Rất đáng lưu ý là, mặc dù chỉ có 6,7% qua ti vi/đài và 5,6% qua cán bộ y tế, nhưng cũng cho thấy các phương tiện thông tin đại chúng và đặc biệt là cán bộ y tế cũng là nguồn cung cấp các thông tin này Có 84,4% BM biết giới tính của trẻ trước sinh, thấp hơn kết quả NC của Viện khoa học dân số gia đình và trẻ em năm 2006 (90%)[1], nhưng lại cao hơn NC của Nguyễn Văn Phái tổng hợp số liệu từ cuộc điều tra biến dộng dân số trên toàn quốc (năm 2004 là 61%, năm 2006 là 66%)[4]. Tất cả các BM biết giới tính của con trước sinh đều bằng SÂ. Điều này cho thấy SÂ là phương tiện phổ biến và gần như duy nhất cung cấp thông tin về giới tính của trẻ trước sinh tại địa phương. Nhà nước đã có quy định cấm tiết lộ giới tính của trẻ khi SÂ nếu không có yêu cầu cho điều trị. Kết quả NC cho thấy có 91% BM cho là không có khó khăn về việc này (mặc dù ở cơ sở nhà nước có khó khăn hơn cơ sở tư nhân) nhưng nhìn chung các cơ sở SÂ đã không thực hiện nghiêm chỉnh quy định này. Với 62, 8 lượt BM đến SÂ ở cơ sở tư nhân thì cho thấy cơ sở tư nhân là nơi các BM đến SÂ khá cao ở địa phương. Có thể điều này xuất phát từ tính thuận tiện cũng như việc dễ dàng biết giới tính của trẻ của cơ sở y tế tư nhân. Đã có nhiều NC ở các nước có TSGTKS cao như Trung Quốc, Ấn Độ khẳng định SÂ chẩn đoán giới tính sớm và phá thai để lựa chọn giới tính là kỹ thuật và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh [3],[4]. Trong NC của chúng tôi chưa thể loại trừ có sai sót khi thu thập thông tin này (có thể các BM đã nhầm lẫn giữa tình hình thực tế ở địa phương và nhận định chủ quan của bản thân), hơn nữa vì chưa có nhiều NC sâu về vấn đề này ở Việt Nam và đây là vấn đề rất nhạy cảm. Nên mặc dù có 51,9% BM cho rằng có việc nạo thai vì lý do giới tính, nhưng chúng tôi chưa thể đưa ra nhận định về mức độ phổ biến của tình trạng này. Tuy vậy, kết hợp với kết quả NC định tính thì có thể thấy rằng việc nạo phá thai vì lý do giới tính ở địa phương không phải là không có, còn về mức độ trầm trọng như thế nào thì cần phải tìm hiểu sâu hơn để có thể đưa ra nhận định chính xác. 4.4. Thông tin về dự định sinh tiếp Với việc có 90% BM mới có một con muốn sinh tiếp và trên 90% BM đã có hai con không muốn sinh tiếp (OR=75; P<0,001), cho thấy đại đa số các BM muốn mô hình gia đình có 2 con. Nhưng có đến 10,4% BM mới có một con không muốn sinh tiếp, cũng cho thấy mô hình gia đình một con cũng là một xu hướng của một bộ phận không nhỏ của những cặp vợ chồng trẻ hiện nay. Trong số những BM mới có 1 con mà không muốn sinh tiếp thì có 90,9% đã có con trai. Còn những BM đã có 2 con mà chưa có con trai thì có đến 28,1% muốn sinh tiếp. Đặc biệt vẫn còn 9,2% BM muốn sinh con lần 3 với lý do chủ yếu là chưa có con trai, điều này cho thấy có cả trai và gái là mong mỏi của đa số các cặp vợ chồng. Lý do muốn sinh con trai hay con gái nữa chủ yếu vì chưa có con trai: 94% hay chưa có con gái: 97,5%, một lần nữa khẳng định muốn có nếp có tẻ là nguyện vọng của đại đa số các cặp vợ chồng cũng như lý do sinh con thứ ba chủ yếu là vì chưa có con trai. Tóm lại: NC mới chỉ tiến hành trên một địa bàn có quy mô dân số nhỏ và chỉ thu thập thông tin về số sinh trong một năm 2005, nên kết quả về TSGTKS chỉ có ý nghĩa tại thời điểm điều tra, mà không thể phản ảnh cho tình hình chung trên địa bàn. Kết quả TSGTKS của NC cứu này chênh lệch khá nhiều so với số liệu lưu báo cáo của ngành dân số và y tế trên địa bàn. Trong chừng mực nhất định người dân đã tìm hiểu về các biện pháp kỹ thuật để sinh con theo ý muốn. Lý do chính để các BM mong sinh được con trai là muốn có nếp có tẻ, chỗ dựakhi về già và nối dõi tông đường. Việc sinh thêm con thứ ba chủ yếu là vì chưa có con trai. Việc tiết lộ giới tính khi SÂ còn khá dễ dàng cả ở cơ sở tư nhân và nhà nước. Nên tiếp tục theo dõi và tiến hành các NC sâu hơn về vấn đề này trên địa bàn cũng như ở phạm vi quy mô dân số lớn hơn.
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban điều hành, văn phòng thực địa, bộ phận quản lý dữ liệu của CHILILAB đã tạo điều kiện cho chúng tôi thu thập, sử dụng số liệu phục vụ cho NC. Xin cảm ơn sự giúp đỡ của TS Phạm Việt Cường, ThS Bùi Thị Tú Quyên trong quá trình phân tích số liệu. Xin cảm ơn cán bộ và nhân viên ngành y tế, dân số huyện Chí Linh cùng các đối tượng nghiên cứu đã tạo điều kiện, giúp đỡ chúng tôi thu thập số liệu tại cộng đồng.
Tài liệu tham khảo
1. Đoàn Minh Lộc (2006), Báo cáo tóm tắt kểt quả nghiên cứu mất cân bằng giới tính trong 5 năm qua ở một số địa phươn: thực trạng và giải pháp, Viện khoa học dân số gia đình và trẻ em.
2. Tổng cục thống kê (2001), Kết quả điều tra toàn bộ: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, Nhà xuất bản thống kê.
3. Tìm hiểu vể tỷ số giới tính lúc sinh của Ấn Độ, http://www.vcpfe.gov.vn/web/khach/xuatbanpham / dspt/2006/So2-59. Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em Việt Nam, xuất bản phẩm. Tạp chí Dân số và phát triển năm 2006. Số 2 (59). Truy cập hồi 22 giờ ngày 26/12/2006.
4. Quỹ dân số Liên hợp quốc; Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam (2006), Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm dự báo chính sách về giới tính khi sinh.
5. Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em tỉnh Hải Dương (2006), Báo cáo tổng hợp số trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế.
6. Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em huyện Chí Linh (2004, 2005, 2006), Báo cáo công tác dân số gia đình và trẻ em năm 2003, 2004, 2005.
|
|||||
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:53 |
- Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H tại hai quận Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, năm 2006
- Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại
- Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên
- Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










