Polls
Announcement
| Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại |
| Written by PGS. TS. Đặng Nguyên Anh(*) |
| Monday, 26 October 2009 23:16 |
|
There are no translations available. Hầu hết các nghiên cứu trước đây về di dân và sức khoẻ tập trung xem xét người di cư và ít chú trọng đến những vấn đề liên quan đến sức khỏe và phúc lợi của những người ở lại. Bài viết này nhằm tìm hiểu tác động về mặt sức khỏe của lao động đi làm ăn xa từ góc độ cộng đồng địa phương. Thoát ly đi làm của quần thể lao động nông thôn và nguy cơ phơi nhiễm đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS khi xa nhà có thể tác động đến người thân và gia đình khi họ về thăm nhà hoặc quay về sống tại quê hương. Vấn đề rất đáng quan tâm là sự lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục mà người đi làm ăn xa đem về cho vợ/chồng của mình ở quê nhà. Người phụ nữ nông thôn và nhất là người vợ thường ở vị trí bị động, dễ tổn thương đối với HIV do từ người chồng đi làm ăn xa đem về. Đối với nhiều gia đình, đó là những mối quan hệ giằng xé giữa nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS với tình yêu, tình cảm vợ chồng, thu nhập và nguồn sinh kế mà di cư đi làm ăn xa đem lại. Bài viết kết luận bằng một số đề xuất khuyến nghị phù hợp đối với chính sách và chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ và các kỹ năng phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng di cư cũng như cộng đồng ở lại quê nhà, theo hướng xây dựng các mô hình di cư an toàn.
Từ khóa: Di cư, phơi nhiễm.
The HIV/AIDS Vulnerability of Labour out-Migrants and its Consequences on the Left-behind Most previous studies on migration and health have focused on the migrants themselves. Little is known about the health and well-being of those who remained in the source communities. This paper is aimed at exploring how labour migration and its health risk effects can be assessed at a local con- text. The out-migration of the rural labours and their exposure to STDs, including HIV/AIDS, can put families at risk. Of foremost concerns are the HIV/STD transmissions which the migrants pass on to their left-behind spouses. Women and wives are in a passive and vulnerable position of con- tracting HIV from migrant husbands. For many families, there exist tensions between the HIV/AIDS risk, love, affection, income and secured livelihoods brought about by out-migration. The paper con- cludes with relevant recommendations for policies and programs, aiming at building models of safe mobility.
Key words: Migration, exposure
Tác giả:
PGS.TS. Đặng Nguyên Anh, Trưởng phòng Quan hệ Quốc tế - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, số 1 Liễu Giai - Hà Nội. Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .
1. Đặt vấn đề Tính đến ngày 30/10/2006, số bệnh nhân nhiễm HIV tích luỹ đã được thông báo chính thức tại Việt Nam là 112.444 trường hợp, trong đó số đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 19.152 ca và số đã tử vong vì AIDS là 11.555 ca. Tuy nhiên con số ước tính trên thực tế cao gấp ba lần và theo dự báo, sẽ có tới 1 triệu ca nhiễm HIV vào năm 2010. Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên cả nước vẫn dừng lại ở mức 0,44% song tình trạng lây nhiễm HIV đã lan ra cộng đồng và có xu hướng trẻ hoá. Các trường hợp nhiễm HIV đã được ghi nhận tại tất cả 64 tỉnh thành của cả nước, trên địa bàn của 50% xã phường hiện nay. Đa số bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm tuổi 20-29 (chiếm 55,3%) trong đó nam giới chiếm 85% số nhiễm phát hiện được. Trong những năm gần đây, lây truyền HIV diễn ra dễ dàng hơn và trở nên phức tạp hơn [5]. Bên cạnh con đường lây truyền chính qua tiêm chích ma tuý (51,4 %), nam giới là khách làng chơi còn quan hệ với gái mại dâm hoặc có tình dục đồng giới và truyền virut cho vợ hay bạn tình của mình, rồi đến lượt mình những bạn tình này lại có thể có quan hệ tình dục với người đàn ông khác. Đó là chưa kể đến tình trạng để có tiền tiêm chích hoặc được bao thuốc miễn phí, gái mại dâm sẵn sàng đi khách và quan hệ với nhiều bạn tình, từ đó HIV/AIDS lan rộng ra cộng đồng. Trong tất cả các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS nói trên thì di biến động dân số lại ít được xem xét (UNAIDS và WHO) [7]. Thực tế đã cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS khá phổ biến trong nhóm người có tiền sử đi lại và di biến động nhiều. Hầu hết những người đi làm ăn xa quê hương khi về thăm nhà, vợ chồng đoàn tụ theo định kỳ. Đối với nhóm lao động đi làm ăn xa, sau những lần trở về và ra đi theo mùa vụ, lao động di cư có thể để lại tổn thương HIV cho những người thân ở lại quê hương. Tuy nhiên, có rất ít những nghiên cứu giám sát dịch tễ học ở châu Á được tiến hành trong nhóm người lao động di cư (UNAIDS[8]. Tại Việt Nam, tình hình nhiễm HIV trong nhóm dân số di cư và các yếu tố dẫn đến sự tổn thương HIV còn ít được biết đến. Lao động di cư sống và làm việc ở những nơi có tỷ lệ nhiễm HIV cao như trung tâm đô thị, khu công nghiệp, biên giới, cảng biển, vùng mỏ, đào đãi vàng... Trong hoàn cảnh đi làm ăn có tiền, lại không có sự kiểm soát của cộng đồng hay gia đình ở bên nên một số người có điều kiện quan hệ với gái mại dâm, có bạn tình, sử dụng và tiêm chích ma tuý. Trong khi đó, do vị thế pháp lý yếu thế tại nơi đến nên lao động di cư thiếu những kiến thức phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS và ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y- tế công cộng. Điều này càng làm trầm trọng thêm những rủi ro và nguy cơ tổn thương đối với HIV/AIDS trong nhóm dân di biến động.
Cơ sở nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu một số yếu tố gây nên tổn thương với HIV trong nhóm lao động di cư, kiếm sống ở nơi khác và tác động đến những người thân ở lại từ góc độ lây nhiễm HIV/AIDS. Đây là chủ đề còn ít được biết đến, song có ý nghĩa lớn đối với việc xem xét các chính sách phát triển nông thôn cũng như tạo cơ sở khoa học cho những hỗ trợ can thiệp nhằm ngăn chặn tốc độ lây lan của đại dịch AIDS ra ngoài cộng đồng.
2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đánh giá này sử dụng phương pháp định tính để thu thập số liệu với các kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung (FGD), phỏng vấn sâu cá nhân (IDI). Các cuộc thảo luận nhóm tập trung được thực hiện với những người đã từng đi làm ăn xa và với những người di biến động đang trong thời gian thăm nhà. Để có thể thu thập được những thông tin toàn cảnh về đời sống gia đình, người thân (vợ/chồng; mẹ đẻ) của họ cũng tham gia thảo luận. Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tự nguyện và cung cấp các thông tin chính xác. Tính riêng tư trong việc thu thập thông tin đều được đặc biệt nhấn mạnh, và thực hiện nghiêm túc trong suốt quá trình nghiên cứu. Các cuộc thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu cá nhân chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng. Các thông tin được giữ kín, không gắn với tên của người được phỏng vấn. Những người đồng ý tham gia phỏng vấn có nam, có nữ, đã xây dựng gia đình và chưa kết hôn, người đi làm ăn xa cũng như người ở lại. Độ tuổi của người trả lời từ 18-54, nhưng số đông chủ yếu trong nhóm tuổi dưới 35 tuổi. Nhiều người đã có một quá trình đi làm ăn xa nhà, đến nhiều tỉnh thành và vùng miền khác nhau. Thành phần tham gia phỏng vấn đảm bảo sự đa dạng về giới tính, tuổi và đôi khi trong điều kiện cho phép cả về nghề nghiệp. Kiến thức, thái độ, quan niệm về việc nhiễm và lây truyền HIV được tìm hiểu kỹ trong quá trình thu thập thông tin. Bảng 1 tóm tắt thông tin về đối tượng tham gia phỏng vấn. Tổng số, có 5 cuộc thảo luận nhóm và 15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân được thựchiện, với tổng số 48 đối tượng có đặc trưng nhân khẩu xã hội khác nhau. Một số đã từng đi làm ăn xa trước đây, nay quay về quê nhà sinh sống. Một số khác đang về thăm nhà, và tất nhiên không thể thiếu được những người vợ/chồng của đối tượng hiện đang đi làm ăn xa. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Lao động đi làm ăn xa Điều kiện sống, nơi ăn chốn ở của lao động đi làm ăn xa là nhân tố gây tổn thương đối với sức khoẻ. Đại đa số sống tại nhà trọ hoặc lều quán dựng ngay tại nơi làm việc. Trong nhiều trường hợp, 10-15 nam giới có thể ở chung một diện tích 20m2 và ăn ngủ luôn trên sàn nhà. Thường thì nơi ở không có nhà vệ sinh. Giếng khoan là nguồn nước sinh hoạt chủ yếu khi làm ở thành thị hoặc sông suối ở nông thôn. Do công việc khá nặng nhọc và điều kiện sống thiếu thốn tại nơi đến, một số người bị sốt rét hay sốt cao. Đối với lao động nữ ở trọ thì các điều kiện sinh hoạt cũng không khá hơn là bao. Công trình phụ ở những điểm ngụ cư này thường là nơi tắm chung và sẽ không còn chỗ nếu đi tắm muộn. Đối với một số nghề lao động phổ thông như chị em bán chuối rong hay nam giới đạp xích-lô chở hàng thì người lao động phải thức giấc từ sớm để có thể kịp đến các chợ đầu mối họp vào ban đêm hoặc rạng sáng. Không phân biệt nam nữ, tất cả đều sẵn sàng chấp nhận những điều kiện sinh hoạt thiếu thốn để giữ nghề và có đủ tiền cho gia đình. Người lao động không chỉ trải nghiệm những gì xảy ra trong cuộc sống khi xa nhà mà còn thay đổi cả những hành vi của mình. Kết quả từ nhiều cuộc thảo luận với người lao động đi làm ăn xa cho thấy họ có những thay đổi hành vi cùng với di cư như uống rượu, hút thuốc, một số thử hít heroin, ma tuý, đánh bài: "Vào những ngày mưa to, khi không đi làm được cả nhóm chơi bài, góp một ít tiền. Những người trẻ chưa có gia đình thì đi vui vẻ. Bọn trẻ không tiết kiệm được nhiều tiền như chúng tôi, vì chúng nó đi uống, hát karaoke, và chơi gái”. (Nam, công nhân xây dựng, 39 tuổi, 2 con). Nam thanh niên đã có gia đình cũng gặp hoàn cảnh như vậy khi họ sống xa vợ con. Với các trường hợp này, sống xa nhà cũng là cơ hội tránh được sự kiểm soát của cha mẹ, gia đình, láng giềng, trong khi đó, trong túi lại có tiền mặt. Việc bạn bè mời mọc rủ nhau ra quán ăn uống và sau đó chơi bời là khó có thể tránh khỏi. Đặc biệt, những người ở thuê nhà riêng thường cho biết họ có quan hệ tình dục với gái mại dâm hoặc bạn tình dễ dàng hơn do không phải lo lắng e ngại bạn bè cùng quê biết. Còn với lao động nữ khi xa nhà, tuy nguy cơ dính dáng đến ma tuý, cờ bạc hay tệ nạn xã hội là rất thấp, song chị em làm các nghề như bán hàng rong, gánh thuê, lau chùi nhà cửa, giúp việc quán xá lại gặp phải những rủi ro khác. Nguy cơ mà chị em thường đề cập là sự quấy rối và lạm dụng tình dục của những ông chủ thuê mướn lao động và những kẻ xấu. Bản thân lao động nam cùng khu trọ cũng lợi dụng những phụ nữ xa nhà. Qua trao đổi thảo luận, kết quả còn cho thấy một số nữ thanh niên trẻ bị rơi vào cạm bẫy và trở thành người phục vụ tại các quán cà phê mà nhiều khi không hay biết rằng nguy cơ tổn thương HIV là rất lớn: "Cô em sống ở thành phố Hồ Chí Minh, cô ấy gọi em vào bán càfê cho cô ấy. Em sống cùng gia đình cô nhưng buổi tối thì phục vụ khách khi quán bắt đầu mở. Cũng đã xảy ra chuyện ấy với khách đến quán. Cô ấy trả em rất cao và em quyết định bỏ nghề thêu trong xí nghiệp”. (Nữ, 26 tuổi, độc thân).
3.2. Trải nghiệm của những người đi làm ăn xa về vấn đề sử dụng ma tuý Nhiều lao động khi đi làm ăn xa đã thử sử dụng ma tuý cùng với nhóm bạn, mà đa số là do bị rủ rê, lôi kéo, tò mò, do áp lực của công việc và đặc biệt là do sống xa gia đình. Lúc đầu là thử hút, và sau khi đã quen rồi chuyển sang tiêm chích. Một trường hợp người được hỏi đã cho biết hành vi của mình thay đổi chỉ sau 1 năm làm việc: Đầu tiên là hút thử với bè bạn, hút 3 lần một ngày, sau đó chuyển sang chích heroin 1-2 lần/ngày giá cao khoảng 300.000 đồng/ngày. Sau đó gia tăng cường độ, chích 5-6 lần/ngày sử dụng loại thuốc đen rẻ tiền chỉ mất 20.000 đồng/ngày . Đối với người nghiện chích, lần đầu tiên là chích cocain/heroin, sau khi đã làm quen với hút thuốc phiện. Song do hút thì cần phải có chỗ để hút, nên dễ bị công an phát hiện, do đó họ đều có xu hướng chuyển sang tiêm chích: "Năm 1996, khi mà ma tuý bị cả xã hội lên án, việc hút trở nên không thuận tiện nữa vì chẳng có nơi nào bán cả, nên chúng em đã chuyển sang chích”. (Nam, tiêm chích, HIV+, 28 tuổi, 1 con). Thông thường, những người tiêm chích dùng chung bơm kim tiêm lần đầu phải giúp nhau tìm tĩnh mạch (ven) mới. Điều này dẫn đến nguy cơ sử dụng chung bơm kim tiêm ngay từ trong lần đầu tiêm chích. Tuy nhiên lý do cho thấy thật đa dạng, và trong hoàn cảnh rất khác nhau: "Vì mắt cháu kém nên không thể tự tìm tĩnh mạch cho mình được. Cháu phải nhờ bạn giúp, chẳng biết chúng nó dùng xi lanh mới hay cũ nữa” (Nam, tiêm chích, 23 tuổi, độc thân). "Khi 5 đứa bọn em cùng chờ để chích thì chỉ có 3 xi lanh thôi, nên một người phải rửa bơm kim tiêm bằng nước trước khi chích. Về sau cứ hai người chung một bơm kim tiêm”. (Nam, tiêm chích, 42 tuổi, đã kết hôn).
3.3. Sử dụng bao cao su và nhận thức về HIV Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài, bao cao su được sử dụng chủ yếu như là biện pháp tránh thai và ít được tuyên truyền như một phương tiện để ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục. Trong nhiều giai đoạn thăng trầm của chương trình Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, vòng tránh thai vẫn là biện pháp tránh thai phổ biến được tuyên truyền sử dụng ở nông thôn. Có nhiều bằng chứng cho thấy từ các nghiên cứu khác là bao cao su ít khi được sử dụng trong nhóm khách làng chơi [6]. Nam giới mua dâm sẵn sàng trả thêm tiền cho gái để không phải sử dụng bao cao su hoặc bản thân gái mại dâm cũng tuỳ khách quen hay sơ mà sử dụng [1,2]. Tỷ lệ sử dụng bao cao su và sử dụng thường xuyên của gái mại dâm được báo cáo là không quá 20% ở một số tỉnh được tiến hành khảo sát như Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang[4]. Kết quả phỏng vấn tiến hành tại Vũ Tây, Thái Bình cho thấy tỷ lệ sử dụng bao cao su thấp trong nhóm lao động nam đi làm ăn xa mặc dù hầu hết ý thức được rằng bao cao su có thể giúp ngăn ngừa được HIV và các bệnh xã hội. Nam giới phản ứng khá gay gắt với việc dùng bao cao su để phòng lây truyền HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục bởi vì trong ý kiến của họ “bao cao su không thích hợp với những người chung thuỷ như chúng tôi" (Nam giới, 39 tuổi, 2 con). Đây là một nghịch lý phản ánh nhận thức và kiến thức phòng chống HIV/AIDS của lao động đi làm ăn xa còn thiếu và yếu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhiều nam giới trong nhóm lao động đi làm ăn xa cho biết họ đã có quan hệ với gái mại dâm và bạn tình. Rất ít đối tượng sử dụng bao cao su và không ai thừa nhận đã sử bao cao su thường xuyên khi có quan hệ tình dục với gái mại dâm: "Gái bán dâm không dám yêu cầu khách hàng sử dụng bao cao su bởi vì họ được trả tiền. Khi chúng tôi uống rượu say, chúng tôi không sử dụng bao cao su. Nhiều khi đã ở trong rồi thì rút ra để đi bao cũng không có tác dụng gì” (Nam giới, buôn bán nhỏ, 28 tuổi). Tuy có những hành vi nguy cơ cao như vậy song tất cả đều mong muốn mình không bị dính vào bệnh tật và lại càng không muốn để vợ con biết chuyện vui vẻ khi xa nhà. Vấn đề là ở chỗ không một ai trong mẫu khảo sát cho biết có sử dụng bao cao su khi về thăm nhà. Điều khá ngạc nhiên là đối với người vợ ở lại quê hương, hầu hết các chị đều biết rằng đàn ông không chung thuỷ khi làm ăn xa nhà. Không một trường hợp được phỏng vấn nào cho rằng chồng mình có sử dụng bao cao su khi có quan hệ tình dục với gái mại dâm: "Tôi xin đánh cuộc rằng họ không bao giờ sử dụng vì ngay cả với vợ họ còn không dùng nữa là với người phụ nữ mới gặp thì họ càng không sử dụng bao cao su”. (Nữ nông dân, 26 tuổi, 2 con). Nhận định này phản ánh sự hiểu biết của chị em đối với hoàn cảnh và cuộc sống của người chồng khi làm ăn xa nhà. Dường như trong suy nghĩ của chị em, việc đàn ông tìm đến gái mại dâm khi cô đơn là có thể chấp nhận được: "Tôi để cho anh ấy đi, điều quan trọng nhất là anh ấy mang tiền về nhà. Xa nhà, xa vợ con, tôi không ngăn anh ấy đến với các thú tiêu khiển được, ngay cả chuyện quan hệ nam nữ”. (Nữ nông dân, 32 tuổi, 2 con). Tuy nhiên, chị em lại luôn tự nhủ và tin rằng nếu người vợ chung thuỷ với chồng thì bản thân họ sẽ không bị nhiễm HIV. Một số hiểu rằng họ có thể bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ người chồng nhưng không ai nghĩ đến việc lây nhiễm HIV. Điều này cho thấy kiến thức và hiểu biết của chị em về căn bệnh này còn rất hạn chế. Công tác tuyên truyền và thông điệp truyền thông HIV/AIDS chưa thực sự sâu rộng đối với chị em phụ nữ nông thôn cũng như đối với cộng đồng ở lại. Hạn chế này còn được thể hiện qua tâm sự của một số chị em về những khó khăn trở ngại về mặt xã hội và chương trình khi tiếp cận với bao cao su: "Em đã đặt vòng, vì vậy mà không được nhận bao cao su từ chương trình cộng đồng. Ngoài ra, em không dám mua bao cao su khi chồng đi vắng, mẹ chồng em sẽ căn vặn ngay, và thậm chí anh ấy cũng nghi ngờ lòng chung thuỷ của em”. (Nữ nông dân, 26 tuổi, 2 con). Rõ ràng là trong bối cảnh ở một số làng quê hiện nay, việc tiếp cận và sử dụng bao cao su có những khó khăn nhất định. Chị em phụ nữ khó có thể chủ động sử dụng bao cao su nếu như thiếu sự hợp tác của nam giới: "Chồng em thường về nhà ban đêm, vì vậy em không có cách nào để chuẩn bị trước được. Anh ấy cũng phản đối rằng tại sao lại phải dùng bao cao su nếu như anh ấy chung thuỷ với em”. (Nữ nông dân, 25 tuổi, 1 con). Tương tự như vậy, một đối tượng khác nói đến trở ngại trong việc sử dụng bao cao su mỗi khi người chồng về thăm nhà: "Anh ấy thường về muộn mà không thông báo trước gì cả. Mà không dễ dàng gì cho em lấy được bao cao su khi quan hệ, cho nên bọn em không sử dụng nó trong tất cả các lần”. (Nữ nông dân, 31 tuổi, 2 con). Nhìn chung, những người vợ ở lại đều nghe đến tên căn bệnh HIV/AIDS và đa số đều biết AIDS là không thể chữa trị được. Một số có thể kể tên được một số cách phòng chống lây nhiễm cơ bản song không ít người vẫn tin rằng, HIV có thể lây qua đường ăn uống cùng nhau, cắt tóc, bắt tay với người nhiễm HIV, v.v... Nếu so với phụ nữ thì nam giới có kiến thức về HIV/AIDS tốt hơn, do được đi lại và giao tiếp nhiều hơn, trình độ học vấn cao hơn và được tiếp cận với nhiều thông tin hơn. Tuy chị em thừa nhận họ không biết rõ hoặc hiểu rõ về HIV/AIDS, song tất cả đều mong muốn có được cơ hội tìm hiểu kiến thức về đại dịch này.
Tâm thế của những người ở lại về người thân đi làm ăn xa Chị em phụ nữ ở lại quê hương cho biết rằng chồng con của họ khi xa nhà có thể vui vẻ ăn nhậu với bạn bè, kể cả đi hát karaoke. Nhiều người vợ còn tin rằng chồng họ có quan hệ tình dục với gái mại dâm khi xa nhà. Một người phụ nữ biểu lộ quan điểm của mình về nhóm này: "Ham muốn của cánh nam giới [những người chồng] tăng lên khi họ xa vợ con, cho nên họ tìm đến các thú tiêu khiển" (Nữ nông dân, 31 tuổi, 2 con, chồng đi làm ăn xa). Tuy nhiên, chị em dường như chấp nhận việc chồng làm điều đó bởi vì theo chị em, nam giới đã phải lao động vất vả để nuôi gia đình, vợ con. Đối với những người vợ sống ở nhà, vấn đề là sự thiếu vắng người chồng, người đàn ông. Trong suy nghĩ của họ, họ không muốn chồng mình đi xa song vì sự tồn tại của gia đình và đời sống kinh tế nên họ hiểu rằng chồng họ phải đi làm ăn, xa vợ xa con. Điều khiến họ lo lắng nhất là tình trạng sức khoẻ của chồng, luôn lo rằng người thân có thể bị tai nạn hay bị đau ốm khi "trái gió, trở giời" mà không có người thân chăm sóc ở bên. Một người vợ tâm sự: “Anh ấy có thể gặp tai nạn trên đường, như ngã xe máy trong tình trạng quá say rượu." Sự giằng xé giữa sinh kế cho gia đình, giữa tình yêu, tình cảm vợ chồng và rủi ro mà người ra đi gặp phải được thể hiện qua khái niệm: tình cảm trực tiếp và "tình cảm gián tiếp -- thuật ngữ thường được chị em sử dụng khi nói về người chồng xa nhà của mình. Tình cảm trực tiếp được được áp dụng khi người chồng ở nhà không đi làm ăn xa, được gần gũi với gia đình vợ con. Còn tình cảm gián tiếp có nghĩa là người chồng phải lo toan kiếm sống để nuôi gia đình, và vì vậy mà phải chấp nhận đi xa, thiếu thốn tình cảm. Đối với người ở lại, cả hai loại tình cảm đều được chị em trân trọng vì đều là công sức mà người chồng mình làm ra. Là lao động chính nên khi nam giới xa nhà, người phụ nữ phải làm việc vất vả hơn. Họ vừa phải chăm lo kinh tế gia đình hàng ngày, trông nom ruộng đồng, chăm sóc bố mẹ chồng, lại vừa phải kiếm sống và nuôi dạy con cái. Sẽ là ngạc nhiên nếu như chị em không coi đó là một gánh nặng đè sâu trong lòng. Tuy nhiên, tất cả đều cố gạt đi những vất vả khó khăn, quên đi nhu cầu hạnh phúc nghỉ ngơi của bản thân, cố gắng và chịu đựng nhiều hơn khi chồng vắng nhà. Họ sẵn lòng hy sinh cho gia đình, cho bố mẹ chồng và cho con cái mà không một chút kêu ca phàn nàn về hoàn cảnh đang phải chịu đựng.
4. Bàn luận Vấn đề quan tâm nhất của nghiên cứu này là nguy cơ phơi nhiễm HIV (cùng với các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác) trong nhóm người di biến động mà trước hết là trong lao động đi làm ăn xa do thiếu các kiến thức cơ bản về HIV để có thể hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV. Cộng đồng xã Vũ Tây chỉ là một ví dụ điển hình về sự lây lan nhanh chóng của HIV từ bên ngoài khi mà các biện pháp bảo vệ không được chuẩn bị và phòng ngừa hiệu quả đối với từng gia đình trong xã. Như đã đề cập qua kết quả nghiên cứu, vợ và con của người chồng đi làm ăn xa và nhiễm HIV đều đã bị lây nhiễm vào thời điểm khảo sát ở Vũ Tây. Lao động đi làm ăn xa ở vùng nông thôn di chuyển đến nhiều vùng khác nhau. Tại những nơi đến, do các ràng buộc và kiểm soát xã hội không còn nên việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hay sử dụng ma tuý là những hành vi được dễ dàng chấp nhận. Lao động đi làm ăn xa thường chịu sức ép của bè bạn cùng nhóm có hoàn cảnh xa nhà giống mình. Quan hệ với gái mại dâm, với bạn tình hay sử dụng rượu bia, ma túy giúp làm giảm đi nỗi cô đơn khi xa nhà, khi không có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng xã hội nơi đến. Song, các hành vi đó lại làm tăng nguy lây nhiễm HIV đối với bản thân và cho cộng đồng người thân ở quê nhà. Nội dung phỏng vấn thu được ở Vũ Tây cho thấy người vợ không thể từ chối người chồng, cũng như không thể yêu cầu chồng mình phải chung thủy hay sử dụng bao cao su khi đi làm ăn xa. Quyết định quan hệ tình dục và sử dụng bao cao su cho đến nay là do nam giới chủ động. Điều này khiến cho phụ nữ nông thôn trở nên thụ động trong quan hệ tình dục an toàn, trong khi đó lại đem đến cho nam giới những hành vi nguy cơ cao. Chung thủy là một sự lựa chọn đúng đắn song định kiến giới và khoảng cách chênh lệch về kiến thức giữa nam giới và phụ nữ đang là những hạn chế trở ngại cho công tác phòng chống HIV/AIDS. Trong nhiều năm, các chương trình phòng chống AIDS tại cộng đồng chủ yếu tuyên truyền kêu gọi sự chung thủy trong cuộc sống vợ chồng, tránh xa các tệ nạn xã hội. Cách tiếp cận này vô hình chung đã đặt phụ nữ vào vị thế thụ động, không an toàn trong quan hệ với nam giới. Tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh sản của phụ nữ nông thôn cao còn làm cho nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn từ người chồng. Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý xã hội như niềm tin và tình yêu, sự hy sinh cũng là cấu phần quan trọng trong cuộc sống gia đình và quan hệ vợ chồng mà không dễ dàng lay chuyển được, ngay cả khi người chồng thiếu sự chung thủy. Nghiên cứu tính tổn thương HIV/AIDS trong nhóm dân di biến động không phải là để quy trách nhiệm cho lao động đi làm ăn xa về sự lây truyền của đại dịch AIDS trong cộng đồng. Cần thấy được rằng lao động nông thôn đi làm ăn xa đang là nhóm bị tổn thương trước nguy cơ phơi nhiễm đối với HIV/AIDS và việc giảm thiểu các yếu tố và nguy cơ dẫn đến tổn thương này là hết sức cần thiết mà các chương trình, chính sách can thiệp cần lưu ý. Sau đây là một số khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu: ● Việc phổ cập và phân phát bao cao su tại nơi công cộng, nhà hàng, karaoke, quán cà phê, nhà trọ, nơi cư trú của lao động di cư... là rất quan trọng như một phương thức giảm thiểu tác hại. Tuy nhiên, để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV, cần phải làm nhiều hơn việc phân phát bao cao su đến tay người sử dụng. Cần tập trung nguồn lực làm sao cho hoạt động truyền thông thay đổi hành vi tiếp cận được đến người lao động đi làm ăn xa tại nơi đến cũng như tại quê nhà. Những tác động can thiệp về nâng cao kiến thức, nhận thức, và truyền thông đến từng hộ gia đình ngay từ trước khi các thành viên đi làm ăn xa, tại địa bàn nơi họ đến cũng như trong suốt quá trình lao động làm ăn xa là rất cần thiết nhằm trang bị và tăng khả năng phòng vệ cho người di cư đi làm ăn xa trước nguy cơ tổn thương đối với HIV/AIDS. ● Kiến thức của phụ nữ nông thôn về HIV/AIDS hiện rất thấp, trong khi những biện pháp phòng tránh của chị em lại mơ hồ. Cần hỗ trợ cho những người vợ sống ở quê nhà bằng việc cung cấp các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, tình dục an toàn, đảm bảo sự tham gia của phụ nữ và nâng cao năng lực ra quyết định của họ trong quan hệ vợ chồng. Để làm được như vậy cộng đồng ở lại cần có những hoạt động tuyên truyền sâu rộng nhằm hỗ trợ cho những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi sao cho toàn thể cộng đồng hiểu được rằng việc phòng chống HIV/AIDS là trách nhiệm của người đi làm ăn xa cũng như người ở lại quê hương, đòi hỏi sự tham gia của chính quyền địa phương cũng như của gia đình, gia tộc. ● Có thể nhận ra lỗ hổng trong chương trình phòng chống AIDS ở Việt Nam hiện nay. HIV/AIDS được hiểu là vấn đề liên quan đến sức khoẻ, tính mạng và có thể xử lý thông qua dịch vụ y tế. Ở nhiều cấp, nhiều ngành công tác phòng chống HIV/AIDS được coi như là trách nhiệm của ngành y tế. Các can thiệp liên ngành, đa ngành, đa lĩnh vực đối với HIV/AIDS còn rất thiếu và yếu, đặc biệt cho nhóm người di biến động và lao động đi làm ăn xa. Điều đó dẫn đến thực tế là các chính sách phòng chống HIV/AIDS chưa thực sự mang tính đa ngành và liên ngành. Để phòng chống AIDS, không thể chỉ dựa vào những phân tích dịch tễ học mà cần chú trọng những yếu tố hành vi, yếu tố tâm lý xã hội vì HIV/AIDS về bản chất là căn bệnh xã hội, không phải là bệnh dịch thông thương khác như viêm đường hô hấp cấp tính, cúm gia cầm, viêm gan B, lao phổi. ● Để làm được như vậy, những người lập chính sách và chương trình y tế công cộng hiện nay cần đổi mới nhận thức, quan tâm đến đối tượng đi làm ăn xa, phòng chống HIV/AIDS với sự tham gia tích cực của người sử dụng lao động, của chủ doanh nghiệp, của chính quyền các cấp, của người dân sở tại nơi có nhiều lao động đến làm ăn. Tất cả nhằm cung cấp các thông tin và dịch vụ phòng chống HIV/AIDS thuận tiện và dễ dàng hơn, xây dựng mô hình di cư an toàn cho người lao động di cư - những người đã và đang đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Đặng Nguyên Anh và Lê Bạch Dương (2002) -"Issues of Sexuality and Gender in Vietnam: Myths and realities of penile implants and sexual stimulants Research Report” Canberra: The Australian National University. 2. Khuất Thu Hồng và cộng sự (1998) - "Mại dâm và các hệ lụy kinh tế - xã hội Báo cáo nghiên cứu. Hà Nội: Viện Xã hội học. 3. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình (PPMC) (2001)- Báo cáo tổng kết thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS tỉnh Thái Bình. Sở Y tế Thái Bình. 4. Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em Việt Nam (NCPFC) (2002) - Báo cáo khảo sát hành động cộng đồng phòng chống HIV/AIDS tại 5 tỉnh Lai Châu, Quảng Trị, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Dự án phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng. 5. National Committee for AIDS, Drugs and Prostitution Control (NCADPC) 2005. Second country report on fol- lowing up to the declaration of commitment on - Declaration commitment on HIV/AIDS adopted at the 26th United Nations General Assembly. Reporting period: Jan 2003 - Dec 2005. 6. National Committee for Population and Family Planning (NCPFP) (1997) - Workshop Report on Reproductive Health and Reproductive Tract Infections. Hanoi: Population Council. 7. United Nations Agency for AIDS and World Health Organization (UNAIDS and WHO). (2004) - AIDS Epidemic Update. UNAIDS/04.45E. English original, December 2004. Geneva: UNAIDS and WHO. 8. United Nations Joint Program on AIDS (UNAIDS) (2004) -The 2004 Report on the global AIDS epidemic: The 4th global report. UNAIDS/04.16E. English original, June 2004. Geneva: UNAIDS.
|
| Last Updated on Tuesday, 22 March 2011 15:53 |
- Tỷ số giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn Chililab huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, năm 2005
- Tình hình chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H tại hai quận Hải Châu và Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, năm 2006
- Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sĩ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên
- Y tế công cộng trong kỷ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể
- Thư của tổng biên tập gửi bạn đọc










